Tham dự hội thảo có: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Kim, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, cùng các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia, giảng viên và sinh viên.
Chuyển đổi tư duy từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển
Phát biểu khai mạc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, nhấn mạnh văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn của sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới những mục tiêu phát triển mới, văn hóa cần hiện diện trong chính quá trình phát triển, góp phần định hướng chính sách, khơi dậy sức sáng tạo và tạo dựng những giá trị lâu dài.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh tư duy từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển, gắn bảo tồn và phát huy di sản với đổi mới sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa. Một di sản không chỉ cần được gìn giữ mà còn phải được nghiên cứu, số hóa và giới thiệu bằng những phương thức phù hợp; các ý tưởng sáng tạo cần có môi trường để phát triển thành sản phẩm có giá trị, sức cạnh tranh và đóng góp cho nền kinh tế.
Để hiện thực hóa định hướng này, hoàn thiện thể chế có ý nghĩa quan trọng, góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo và tạo điều kiện để Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia phát triển văn hóa. Quá trình chuyển hóa giá trị văn hóa thành động lực tăng trưởng cũng cần bảo đảm hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, giá trị xã hội và yêu cầu gìn giữ bản sắc dân tộc.
Trình bày tham luận “Chuyển đổi số văn hóa: Từ lưu giữ ký ức đến kiến tạo tương lai”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh chuyển đổi số văn hóa trước hết là chuyển đổi tư duy phát triển, không đơn thuần là ứng dụng công nghệ. Dữ liệu văn hóa cần được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược, một bộ phận của hạ tầng phát triển quốc gia, có khả năng kết nối, chia sẻ và tạo ra những giá trị mới.
Ông đề xuất sớm hoàn thiện kiến trúc và bộ tiêu chuẩn dữ liệu văn hóa quốc gia, thống nhất cơ chế định danh và phân định trách nhiệm quản trị; đồng thời chú trọng đào tạo nhân lực có năng lực kết hợp kiến thức văn hóa với công nghệ và quản trị dữ liệu.
Việc đầu tư cho chuyển đổi số cũng cần vượt ra ngoài máy móc, phần mềm, bao gồm cả thu thập, kiểm chứng, chuẩn hóa, lưu trữ dài hạn, bảo đảm an toàn và tạo điều kiện tái sử dụng dữ liệu. Cùng với đó, cần thúc đẩy hợp tác công-tư, huy động sự tham gia của nhà trường, bảo tàng, viện nghiên cứu, doanh nghiệp sáng tạo và cộng đồng.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, hiệu quả chuyển đổi số cần được đánh giá bằng những giá trị thực tế tạo ra cho đời sống, từ giáo dục, du lịch đến công nghiệp văn hóa và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), thay vì chỉ dựa vào số lượng di sản được số hóa hoặc dữ liệu được đưa lên hệ thống.
Ở góc độ tiêu chuẩn kỹ thuật, Tiến sĩ Nguyễn Văn Anh, Trưởng Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chỉ ra tình trạng thiếu thống nhất về quy trình, phương pháp, chất lượng dữ liệu, lưu trữ và khai thác có thể khiến các sản phẩm số hóa thiếu đồng bộ, khó liên thông và gây lãng phí nguồn lực. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia bao quát toàn bộ quá trình, từ thu thập, chuẩn hóa siêu dữ liệu đến lưu trữ, khai thác và kết nối.
Bên cạnh yêu cầu về công nghệ, các đại biểu cũng lưu ý vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền của cộng đồng và tính xác thực của di sản. Trình bày tham luận về số hóa di sản khảo cổ học, Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Thị Mỹ Dung, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cho rằng cần phân biệt quyền đối với hiện vật gốc, bản số và hoạt động khai thác dữ liệu; đặc biệt chú trọng các di sản thiêng, không gian thiêng và di cốt người.
Việc mở rộng khả năng tiếp cận di sản cần đi cùng cơ chế tham vấn cộng đồng, phân tầng quyền truy cập, thỏa thuận về sử dụng dữ liệu và chia sẻ lợi ích. Theo đó, số hóa không chỉ là sao chép, lưu giữ mà còn là quá trình đòi hỏi trách nhiệm, sự tôn trọng ký ức, niềm tin và giá trị văn hóa của cộng đồng.
Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy công nghiệp văn hóa
Tại hội thảo, có 8 báo cáo được trình bày, tập trung vào ba nhóm vấn đề: thể chế và thị trường công nghiệp văn hóa; số hóa di sản và hạ tầng dữ liệu; quyền, đạo đức và trách nhiệm trong khai thác văn hóa. Các tham luận kết hợp nghiên cứu lý luận, phân tích chính sách và kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam, một số địa phương như Ninh Bình, Lào Cai, đồng thời tham chiếu các mô hình quốc tế như Digital Dunhuang (Trung Quốc), Europeana (châu Âu) và Japan Search (Nhật Bản).
Từ các ý kiến trao đổi, nhiều đề xuất được đặt ra nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Trong đó, chính sách cần được thiết kế theo chuỗi giá trị, kết nối các khâu sáng tạo, sản xuất, phân phối và phát triển công chúng; chú trọng hỗ trợ nhân lực, chủ thể sáng tạo, nhu cầu tiêu dùng và khả năng tiếp cận thị trường, thay vì thiên về đầu tư công trình, thiết bị.
Các đại biểu cũng đề xuất hoàn thiện cơ chế về tài sản trí tuệ và hợp tác công-tư, làm rõ việc xác lập quyền, định giá, cấp phép, phân bổ rủi ro và khai thác tài sản công. Hoạt động thương mại hóa giá trị văn hóa cần gắn với trách nhiệm tái đầu tư cho bảo tồn, duy trì nguồn lực và bảo đảm lợi ích của các chủ thể liên quan.
Đối với dữ liệu văn hóa, cần xác lập khung quản trị thống nhất, quy định rõ nguyên tắc liên thông, cập nhật, lưu trữ, tiếp cận và tái sử dụng; đồng thời có cơ chế bảo vệ thông tin nhạy cảm. Chính sách phát triển công nghiệp văn hóa cũng cần bảo đảm quyền cộng đồng, thiết lập cơ chế tham vấn, đại diện, khiếu nại và giải quyết tranh chấp, cùng các quy định về đạo đức và thử nghiệm công nghệ có kiểm soát, nhất là với trí tuệ nhân tạo (AI).
Các tham luận cho thấy di sản phong phú hay việc số hóa dữ liệu tự thân chưa đủ để hình thành một ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Điều kiện quan trọng là kết nối hiệu quả giữa thể chế, dữ liệu, năng lực sáng tạo, thị trường và trách nhiệm xã hội.
Ban tổ chức sẽ tổng hợp các ý kiến, kiến nghị tại hội thảo để phục vụ công tác tư vấn chính sách, góp phần hoàn thiện cơ chế phát huy nguồn lực văn hóa, đưa các giá trị di sản và sáng tạo vào đời sống đương đại, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước.
Theo Ban tổ chức, Diễn đàn Nhân văn Mùa thu Hà Nội 2026 gồm 10 hội thảo quốc tế, 10 hội thảo/tọa đàm khoa học và 1 đối thoại khoa học quốc tế. Trong những ngày tiếp theo của diễn đàn, các chủ đề "nóng" của khoa học xã hội hiện đại sẽ được bàn luận, như: Khoảng cách số và năng lực trí tuệ nhân tạo (AI), Chính trị số; Quan hệ đối tác ASEAN-Hàn Quốc; Xã hội học và công tác xã hội trong kỷ nguyên số...