Hiệp định Geneva 1954: Một mốc son lịch sử của nền ngoại giao Việt Nam

Cách đây 70 năm, Hiệp định Geneva về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam đã được ký kết, mở ra một trang mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Trải qua 70 năm, những bài học từ đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Geneva vẫn còn nguyên giá trị đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Việt Nam đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc tháng 4/2024. (Ảnh TTXVN)
Việt Nam đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc tháng 4/2024. (Ảnh TTXVN)

Ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của Hiệp định Geneva

Cuối năm 1953, trước những chuyển biến mạnh mẽ trên cục diện chiến trường ở Đông Dương, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương mở cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 để đi tới chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và toàn Đông Dương. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo Thụy Điển ngày 26/11/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó” và “Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”(1).

Ngày 8/5/1954, đúng một ngày sau Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, Hội nghị Geneva bắt đầu bàn về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trải qua 75 ngày đàm phán căng thẳng và phức tạp với 7 phiên toàn thể và 24 phiên họp cấp trưởng đoàn, Hiệp định Geneva đã được ký vào ngày 21/7/1954. Cùng với bản Tuyên bố về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương, bản Hiệp định đình chiến ở Việt Nam đã khẳng định độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, quy định quân đội nước ngoài phải rút khỏi Đông Dương, xác định các giới tuyến quân sự chỉ có tính tạm thời và mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thực hiện thống nhất đất nước...

Trong “Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Geneva thành công” ngày 22/7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Hội nghị Geneva đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to”(2). Quả thực, nếu trong Hiệp định Sơ bộ năm 1946, Pháp chỉ công nhận Việt Nam là quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, thì với Hiệp định Geneva, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta, các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đã chính thức được khẳng định trong một điều ước quốc tế và được các nước tham dự Hội nghị Geneva thừa nhận. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý rất quan trọng để nhân dân ta đấu tranh trên mặt trận chính trị, ngoại giao trong công cuộc giải phóng miền nam và thống nhất đất nước sau này.

Cùng với Chiến thắng Điện Biên Phủ, việc ký kết Hiệp định Geneva đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta cũng như chấm dứt hoàn toàn sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ kéo dài gần 100 năm tại Việt Nam. Với ý nghĩa đó, Hiệp định đã mở ra thời kỳ chiến lược mới của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, đồng thời tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam để đi tới thực hiện trọn vẹn mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Thắng lợi tại Hội nghị Geneva bắt nguồn từ đường lối cách mạng đúng đắn và sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ khát vọng hòa bình cháy bỏng, chủ nghĩa yêu nước cùng bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hiệp định Geneva là kết tinh thành quả đấu tranh quật cường và bền bỉ của quân và dân ta, từ Chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông 1947 đến Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 và tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Cùng với Hiệp định Sơ bộ 1946 và Hiệp định Paris 1973, Hiệp định Geneva 1954 là một mốc son lịch sử của ngoại giao cách mạng Việt Nam, mang đậm dấu ấn tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Hội nghị Geneva đã tôi luyện nên những nhà lãnh đạo đồng thời cũng là những nhà ngoại giao xuất sắc trong thời đại Hồ Chí Minh như các đồng chí Phạm Văn Đồng, Tạ Quang Bửu, Hà Văn Lâu và nhiều cán bộ ngoại giao ưu tú khác. Nhìn lại 70 năm Ngày ký Hiệp định Geneva, chúng ta biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ cách mạng tiền bối cũng như sự hy sinh vô cùng to lớn của quân và dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chúng ta luôn ghi nhớ tình đoàn kết trong sáng và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Lào, Campuchia, các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Pháp, dành cho Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc. Do đó, Hiệp định Geneva không chỉ là thắng lợi của Việt Nam, mà còn là thắng lợi chung của ba nước Đông Dương và cũng là thắng lợi của các dân tộc bị áp bức trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Cùng với Chiến thắng Điện Biện Phủ, Hiệp định Geneva đã cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh vì hòa bình và độc lập dân tộc, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Từ năm 1954 đến 1964, có tới 17 trong 22 thuộc địa của Pháp đã giành độc lập; riêng năm 1960 có tới 17 nước ở châu Phi tuyên bố độc lập.

Những bài học trường tồn với nền ngoại giao mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”

Quá trình đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Geneva là cuốn cẩm nang quý báu về trường phái đối ngoại và ngoại giao Việt Nam với nhiều bài học còn nguyên giá trị về nguyên tắc, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao, mang đậm bản sắc ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Trước hết, đó là bài học về kiên định độc lập, tự chủ trên cơ sở lợi ích quốc gia-dân tộc. Quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Geneva cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn giá trị của nguyên tắc độc lập, tự chủ trong các vấn đề quốc tế. Bởi các quốc gia đều vì lợi ích của mình, nên chỉ có kiên định độc lập, tự chủ mới giúp chúng ta giữ vững thế chủ động và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc.

Thứ hai, bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, gắn kết đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế để tạo nên “một sức mạnh vô địch”. Bên cạnh phát huy tối đa sức mạnh ngọn cờ chính nghĩa và khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta đã có chủ trương đúng đắn về không ngừng mở rộng đoàn kết quốc tế, trước hết là đoàn kết với Lào, Campuchia, các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Thứ ba, bài học về kiên định mục tiêu, nguyên tắc, song cơ động, linh hoạt sách lược theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”(3), trong đàm phán và thực thi Hiệp định Geneva, cái gốc “bất biến” là Việt Nam độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đến Hiệp định Paris 1973 sau này. Còn “vạn biến” là trong lúc chưa thể thực hiện được trọn vẹn mục tiêu cuối cùng, có thể linh hoạt và biến hóa trong sách lược để rồi từng bước tiến tới đạt được mục tiêu bất biến. Đó là một phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh được kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta; đồng thời, thể hiện bản sắc “cây tre Việt Nam” của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, “gốc vững”, “thân chắc”, “cành uyển chuyển”.

Thứ tư, bài học về coi trọng nghiên cứu, đánh giá và dự báo tình hình, “biết mình”, “biết người”, “biết thời”, “biết thế” để từ đó “biết tiến”, “biết thoái”, “biết cương”, “biết nhu”. Đây là bài học sâu sắc, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện nay đang trải qua những biến động lớn, phức tạp và khó lường, càng phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo tình hình thế giới, nhất là chuyển động của các xu hướng lớn, điều chỉnh chiến lược, chính sách của các đối tác, trên cơ sở đó chủ động có đối sách phù hợp với từng đối tác, từng vấn đề.

Thứ năm, bài học về sử dụng đối thoại và đàm phán hòa bình để giải quyết bất đồng, xung đột trong quan hệ quốc tế. Cùng với quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954, Đảng ta đã chủ trương dùng biện pháp đàm phán hòa bình để chấm dứt chiến tranh, từ đó đã mở hướng đi tới một cuộc đàm phán để kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Dù có thể có góc nhìn khác nhau, song không thể phủ nhận Hội nghị Geneva đã để lại một bài học mang tính thời đại về giải quyết bất đồng và xung đột quốc tế bằng biện pháp hòa bình, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện nay đang diễn ra nhiều xung đột phức tạp.

Thứ sáu, bài học bao trùm là sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nói chung và mặt trận ngoại giao nói riêng. Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối và sách lược cách mạng đúng đắn, mở ra mặt trận ngoại giao chủ động tiến công, phối hợp chặt chẽ và thống nhất với các mặt trận chính trị, quân sự để tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm cao nhất lợi ích dân tộc.

Những bài học nổi bật nói trên cùng nhiều bài học quý báu khác từ Hiệp định Geneva đã được Đảng ta kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển trong suốt quá trình đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Paris 1973 cũng như trong triển khai công tác đối ngoại hiện nay. Trong gần 40 năm tiến hành Đổi mới, chúng ta luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn này, đến nay nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, có mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước. Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế lớn như Liên hợp quốc, ASEAN, WTO, APEC, ASEM...; đã tham gia và đang đàm phán 19 hiệp định thương mại tự do, tạo nên một mạng lưới liên kết kinh tế rộng mở với khoảng 60 nền kinh tế trên thế giới.

Phát huy các bài học của Hiệp định Geneva và truyền thống vẻ vang của ngoại giao cách mạng Việt Nam, toàn ngành ngoại giao dưới sự lãnh đạo của Đảng quyết tâm xây dựng nền ngoại giao Việt Nam vững mạnh, toàn diện, hiện đại, đóng góp xứng đáng vào thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

  • (1) NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, 2011, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, trang 340.
  • (2) NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, 2011, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 9, trang 1.
  • (3) NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, 2011, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, trang 555.

Có thể bạn quan tâm

Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải phát biểu tại Hội nghị.

Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải dự Hội nghị IEA về năng lượng toàn cầu

Ngày 4/5 tại Paris (Pháp), Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải đã tham dự Hội nghị Đại sứ các nước thành viên và thành viên liên kết do Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) tổ chức nhằm thông báo về tình trạng khẩn cấp của cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu liên quan đến xung đột tại Trung Đông và việc phong tỏa Eo biển Hormuz.

Quang cảnh làng Kumzar ở miền bắc Oman, gần eo biển Hormuz. (Ảnh: THX/TTXVN)

Đối thoại và hoài nghi giữa Mỹ và Iran

Mỹ và Iran tiếp tục phải “cân não” trong cuộc đối đầu căng thẳng hiện nay khi vừa phải theo đuổi đối thoại để tìm giải pháp chấm dứt xung đột, vừa duy trì sức mạnh răn đe làm đòn bẩy chiến lược trên bàn đàm phán.

Các quan chức tham dự Hội nghị ASEAN+3 tại Uzbekistan.

ASEAN+3 nhất trí hợp tác giải quyết thách thức nguồn cung dầu thô

Trong tuyên bố chung thông qua tại cuộc họp bên lề hội nghị thường niên của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) diễn ra ở Uzbekistan, ngày 3/5, các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương của ASEAN cùng Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc (ASEAN+3) đã chia sẻ mối quan ngại về nguồn cung dầu thô.

Ảnh minh họa.

Mỹ cải tổ toàn diện FBI

Giám đốc Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) Kash Patel ngày 3/5 cho biết, trong vòng 14 tháng qua, cơ quan này đã thực hiện một cuộc cải tổ mang tính “thế hệ” nhằm cắt giảm bộ máy hành chính, điều chuyển nhân sự ra thực địa và áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tăng hiệu quả hoạt động.

Đông đảo đại biểu quốc tế và chư tăng thực hiện một số nghi thức quan trọng tại sự kiện. (Ảnh do Đại sứ quán Việt Nam tại Pakistan cung cấp)

Việt Nam tham gia tổ chức lễ Phật Đản Vesak 2026 tại Pakistan

Chính quyền bang Punjab, Pakistan vừa phối hợp Đại sứ quán Việt Nam và Đại sứ quán các nước Thái Lan, Myanmar, Nepal và Cao ủy Sri Lanka tại Islamabad tổ chức Lễ Phật đản Vesak 2026 tại Taxila – Trung tâm Phật giáo thế giới thời cổ đại và tại Bảo tháp Dhammarajika – nơi lưu giữ xá lợi Đức Phật từ hơn hai nghìn năm trước.

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu phát biểu tại cuộc họp báo ở Jerusalem. (Ảnh: THX/TTXVN)

Israel khởi động chương trình chống UAV khi ít nhất 7 người thương vong trong đợt không kích mới nhất vào Liban

Ngày 3/5, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho biết nước này đã triển khai một dự án đặc biệt nhằm đối phó với mối đe dọa từ thiết bị bay không người lái (UAV) trong bối cảnh gia tăng các cuộc tấn công bằng UAV của lực lượng Hezbollah ở miền nam Liban và gây thiệt hại đáng kể cho lực lượng Israel.

Người tị nạn tại Tawila, Bắc Darfur, Sudan. (Ảnh: THX/TTXVN)

Gỡ khó để phát triển bền vững

Hơn 1.500 đại biểu đến từ 48 quốc gia vừa quy tụ tại “Diễn đàn Khu vực châu Phi về phát triển bền vững” với mục tiêu chung là tìm lời giải cho bài toán phát triển ở châu Phi.

Các đại biểu tham dự Hội nghị chụp ảnh kỷ niệm. (Ảnh do Đại sứ quán Việt Nam tại Chile cung cấp)

Việt Nam đóng góp tích cực tại Hội nghị quốc tế đầu tiên về chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch

Việc Việt Nam tham dự và đóng góp tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về Chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch diễn ra tại Santa Marta (Colombia) thể hiện sự chủ động của Việt Nam trong đối thoại quốc tế về chuyển dịch năng lượng, đồng thời khẳng định lập trường chuyển dịch công bằng, có trật tự, phù hợp với hoàn cảnh quốc gia

Đại sứ Nguyễn Lê Thanh (thứ 2 từ phải qua) và Đại sứ các nước ASEAN khác chủ trì Hội thảo “ASEAN-Đan Mạch: Hợp tác vì tương lai”. (Ảnh do Đại sứ quán Việt Nam tại Đan Mạch cung cấp)

Mở ra tiềm năng, cơ hội hợp tác trong nhiều lĩnh vực giữa ASEAN và Đan Mạch

Với tư cách Đối tác Đối thoại theo lĩnh vực, quan hệ ASEAN-Đan Mạch mở ra tiềm năng và cơ hội hợp tác thiết thực trong nhiều lĩnh vực như chuyển đổi xanh, giải pháp số, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững…; đồng thời đòi hỏi hai bên cần sớm biến đối thoại thành những hợp tác cụ thể và hiệu quả.