Hành trình tìm lại nụ cười cho bệnh nhân liệt một bên mặt suốt 20 năm

Một nửa mặt bị liệt khiến gương mặt chị Đ.X.T (Hải Phòng) biến dạng, mắt không thể nhắm kín được, mất tự tin trong giao tiếp trong hơn 20 năm. Việc phẫu thuật lần 2 hy vọng sẽ tìm lại được nụ cười bình thường cho người phụ nữ này. 

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Sơn và Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung khám cho bệnh nhân.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Sơn và Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung khám cho bệnh nhân.

Sau 20 năm sống chung với tình trạng liệt nửa mặt từ nhỏ, chị Đ.X.T (Hải Phòng) đã quyết định quay lại bệnh viện để tiếp tục điều trị, với hy vọng tìm lại nụ cười cân đối và sự tự tin trong cuộc sống. Trường hợp của chị được các bác sĩ đánh giá là một ca bệnh đặc biệt, không chỉ bởi thời gian mắc bệnh kéo dài mà còn bởi hành trình điều trị kéo dài suốt hai thập kỷ.

Mất tự tin suốt tuổi trẻ vì liệt mặt

Chị T. bị liệt mặt từ khi mới 2 tuổi. Gia đình từng đưa chị đi chữa trị nhiều nơi nhưng tình trạng không cải thiện. Khi lớn lên, việc một bên khuôn mặt không vận động khiến chị gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp và tâm lý. Mặc dù không ảnh hưởng đến ăn uống, nhưng vấn đề thẩm mỹ khiến chị luôn thấy mặc cảm.

Khoảng 20 năm trước, chị từng đến bệnh viện và được Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Sơn phẫu thuật bước đầu bằng phương pháp đặt thần kinh xuyên mặt - một kỹ thuật điều trị liệt mặt được áp dụng phổ biến thời điểm đó.

Theo kế hoạch điều trị, sau khi đặt thần kinh xuyên mặt, bệnh nhân sẽ chờ khoảng một năm để thần kinh phục hồi, sau đó tiến hành phẫu thuật lần hai là ghép cơ và nối thần kinh nhằm khôi phục vận động khuôn mặt.

Tuy nhiên, do tâm lý sợ phẫu thuật và những điều kiện cá nhân, chị T. đã không quay lại để tiếp tục điều trị.

0.jpg
Bệnh nhân được hội chẩn trước khi tiến hành phẫu thuật.

"Lần trước bác sĩ cũng nói với tôi là phải làm hai lần. Lần đầu là nối thần kinh xuyên mặt, sau khoảng 6 tháng sẽ làm tiếp lần thứ hai là ghép cơ để phục hồi vận động. Nhưng lúc đó tôi sợ đau nên không quay lại làm tiếp.

Sau nhiều năm, tôi thấy khuôn mặt ngày càng bị xệ xuống, đặc biệt là bên bị liệt. Khi ra ngoài xã hội, đi làm tôi cũng cảm thấy không được tự tin lắm. Vì vậy sau đúng 20 năm, tôi quyết định quay lại để phẫu thuật tiếp, hy vọng khuôn mặt sẽ cân đối hơn và mình có thể tự tin hơn trong cuộc sống”, chị T. chia sẻ.

Việc bệnh nhân cảm thấy khuôn mặt “không lệch nhiều” trong giai đoạn trước đây là điều khá thường gặp ở người trẻ. Ở độ tuổi đôi mươi, cấu trúc da và cơ mặt còn săn chắc nên sự bất đối xứng chưa biểu hiện rõ rệt. Tuy nhiên, khi tuổi tăng lên, các cơ bị liệt lâu ngày sẽ bị teo và mất trương lực, dẫn đến tình trạng sa trễ khuôn mặt ngày càng rõ.

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung, giảng viên Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội), Phó Chủ nhiệm Bộ môn Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình, công tác tại Khoa Răng-Hàm-Mặt, Bệnh viện E cho biết, qua thăm khám, bác sĩ nhận thấy một nửa khuôn mặt hoàn toàn không có hoạt động cơ, chỉ bộc lộ rõ khi bệnh nhân cười hoặc nói chuyện.

Ngoài yếu tố thẩm mỹ, liệt mặt lâu năm còn có thể gây ra nhiều vấn đề chức năng. Một số bệnh nhân không nhắm kín mắt, dễ bị khô mắt, viêm giác mạc. Những trường hợp nặng có thể ảnh hưởng đến ăn nhai hoặc gây tổn thương niêm mạc miệng. May mắn là ở bệnh nhân T., tình trạng này chủ yếu ảnh hưởng đến thẩm mỹ, chức năng ăn nhai vẫn bình thường.

Phẫu thuật ghép cơ với hai nguồn thần kinh

Chia sẻ về ca bệnh, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Sơn - chuyên gia được bệnh viện mời thực hiện ca phẫu thuật đặc biệt này cho biết, điều trị liệt mặt lâu năm là một thách thức lớn bởi các cơ mặt đã thoái hóa sau nhiều năm không hoạt động. Trong ca phẫu thuật lần này, các bác sĩ quyết định thực hiện ghép cơ thon tự do - một kỹ thuật thường được sử dụng để phục hồi nụ cười ở bệnh nhân liệt mặt lâu năm.

"Khi đặt thần kinh xuyên mặt trước đây, tôi đã đánh dấu vị trí của dây thần kinh ghép. Trong quá trình kiểm tra lại, chúng tôi thấy dây thần kinh này vẫn còn hoạt động và tín hiệu dẫn truyền vẫn tốt. Vì vậy chúng tôi quyết định tiếp tục ghép cơ cho bệnh nhân", Giáo sư Nguyễn Tài Sơn nói.

Điểm đặc biệt của ca phẫu thuật là cơ ghép sẽ được kết nối với hai nguồn thần kinh khác nhau.

Nguồn thứ nhất là thần kinh cơ cắn, nằm ngay gần vùng tổn thương. Nhờ khoảng cách ngắn, cơ ghép có thể nhận tín hiệu thần kinh và bắt đầu co cơ sớm sau phẫu thuật.

Nguồn thứ hai là thần kinh xuyên mặt từ phía bên lành - dây thần kinh đã được đặt từ lần phẫu thuật cách đây 20 năm. Nguồn thần kinh này giúp đồng bộ vận động giữa hai bên khuôn mặt, tạo điều kiện để bệnh nhân có thể cười tự nhiên hơn.

Việc sử dụng hai nguồn thần kinh giúp tăng khả năng phục hồi của cơ ghép so với việc chỉ sử dụng một nguồn như trước đây.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Nhung cho biết, cách tiếp cận mới trong phẫu thuật cho ca bệnh này là áp dụng phương pháp kết hợp cả hai nguồn thần kinh ngay trong một lần phẫu thuật. Trong cùng một thì phẫu thuật, các bác sĩ ghép cơ và nối một phần với thần kinh cơ cắn, đồng thời nối thêm với thần kinh xuyên mặt đã có sẵn. Nhờ vậy, cơ ghép sẽ nhận được tín hiệu từ hai nguồn thần kinh khác nhau.

"Cách làm này giúp bệnh nhân chỉ cần trải qua một cuộc phẫu thuật lớn, nhưng vẫn bảo đảm cơ ghép có khả năng vận động tốt và có thể phục hồi nụ cười tự nhiên sớm hơn.

2.jpg
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung khám cho bệnh nhân.

Thông thường, một ca phẫu thuật ghép cơ và nối thần kinh sẽ kéo dài khoảng 6-7 giờ. Tuy nhiên, với những trường hợp phải nối hai nguồn thần kinh như thế này, thời gian phẫu thuật có thể kéo dài 8-9 giờ", bác sĩ Nhung cho biết.

Theo chuyên gia này, toàn bộ quá trình ghép cơ và nối thần kinh được thực hiện bằng kỹ thuật vi phẫu, dưới kính hiển vi phẫu thuật. Các dây thần kinh được nối bằng chỉ vi phẫu cực nhỏ. Bác sĩ phải khâu nối từng bó sợi thần kinh để bảo đảm tín hiệu thần kinh có thể dẫn truyền tốt sau phẫu thuật.

Theo các bác sĩ, phẫu thuật chỉ là bước đầu của quá trình điều trị. Sau khi ghép cơ, khuôn mặt bệnh nhân sẽ bớt đơ cứng, bớt biến dạng và bệnh nhân có thể cười được.

Để nụ cười trở nên tự nhiên và cân đối giữa hai bên khuôn mặt thì sau phẫu thuật bệnh nhân bắt buộc phải tập luyện rất nhiều. Bệnh nhân cần tập cười trước gương, tập nhe răng và luyện tập các động tác để các cơ hai bên mặt hoạt động đồng đều với nhau. Đây là giai đoạn phục hồi rất quan trọng sau mổ.

Phát hiện và điều trị sớm liệt mặt vô căn

Theo Giáo sư Nguyễn Tài Sơn, nguyên nhân liệt mặt vô căn thường liên quan đến virus, nhiễm lạnh hoặc co thắt mạch máu nuôi dây thần kinh số 7. Khi dây thần kinh bị thiếu máu nuôi dưỡng và sưng lên trong ống xương hẹp, dẫn truyền thần kinh sẽ gián đoạn, khiến các cơ mặt liệt.

Bác sĩ cũng nhấn mạnh, đa số trường hợp liệt mặt vô căn nếu được điều trị kịp thời bằng thuốc chống viêm, giảm phù nề và phục hồi chức năng ngay trong tuần đầu, bệnh nhân có thể tránh được những di chứng lâu dài.

ndo_br_z7605967096795-3cbb104ab31130d68f63cba10507502d-6511.jpg
Các chuyên gia hội chẩn về phương pháp phẫu thuật cho người bệnh.

“Người bệnh khi thấy dấu hiệu méo miệng, nhắm mắt không kín hoặc yếu một bên mặt cần đến cơ sở chuyên khoa càng sớm càng tốt. Điều trị đúng thời điểm có thể giúp phục hồi hoàn toàn và tránh phải trải qua những cuộc phẫu thuật phức tạp sau này”, các bác sĩ khuyến cáo.

Đối với chị T., ca phẫu thuật lần này không chỉ là một can thiệp y khoa mà còn là cơ hội để chị tìm lại sự tự tin sau nhiều năm sống với mặc cảm.

“Tôi chỉ mong khuôn mặt cân đối hơn để mình có thể tự tin cười và giao tiếp như mọi người”, chị T. chia sẻ trước khi bước vào ca phẫu thuật kéo dài nhiều giờ.

Được biết, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Sơn triển khai phẫu thuật ghép thần kinh xuyên mặt kết hợp ghép cơ trong điều trị liệt mặt cách đây khoảng 30 năm. Cho đến nay, ông đã điều trị cho hơn 300 bệnh nhân bằng phương pháp ghép cơ tự do có nối thần kinh và mạch máu, và kết quả đạt được khá tốt.

Có thể bạn quan tâm

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà thăm hỏi, động viên người khuyết tật tham dự lễ khai trương mô hình.

Triển khai thí điểm mô hình cho người khuyết tật, người yếu thế dựa vào gia đình và cộng đồng

Việc triển khai mô hình phải hướng tới hiệu quả thực chất, lấy chất lượng phục hồi chức năng và lợi ích của người dân làm thước đo. Đặc biệt, mô hình phải được tổ chức vận hành thực sự hiệu quả, được đánh giá bằng chất lượng phục hồi chức năng và những lợi ích thiết thực mang lại cho người dân sinh sống trên địa bàn.

Bộ trưởng Y tế yêu cầu bệnh viện tiếp tục rà soát kỹ lưỡng các phương án vận hành, bảo đảm mọi quy trình được thực hiện an toàn, thông suốt, lấy người bệnh làm trung tâm.

Bộ trưởng Y tế kiểm tra công tác chuẩn bị trước ngày Bệnh viện Việt Đức cơ sở Ninh Bình đi vào hoạt động

Chiều 7/7, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan kiểm tra công tác chuẩn bị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở Ninh Bình trước lễ khai trương. Bộ trưởng yêu cầu bệnh viện hoàn thiện các phương án khám, chữa bệnh, cấp cứu và tiếp đón người bệnh, bảo đảm vận hành an toàn, thông suốt ngay từ ngày đầu hoạt động.

Bác sĩ thực hiện kỹ thuật ít xâm lấn cho bệnh nhân.

Mở thông dạ dày qua nội soi: Giải pháp ít xâm lấn giúp duy trì dinh dưỡng cho người bệnh khó nuốt

Lần đầu tiên, các bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình thực hiện thành công kỹ thuật mở thông dạ dày qua nội soi (PEG) cho bệnh nhân đột quỵ mất khả năng nuốt. Kỹ thuật ít xâm lấn giúp thiết lập đường nuôi dưỡng an toàn chỉ trong khoảng 10 phút, mở thêm cơ hội điều trị cho nhiều người bệnh ngay tại địa phương.

Bác sĩ Trung tâm II tiến hành khám sàng lọc cho trẻ khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn Sơn La.

Khám, phẫu thuật miễn phí cho trẻ em khuyết tật ở Sơn La

Ngày 6/7, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La, Sở Y tế tỉnh phối hợp Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam (Trung tâm II) cùng các đơn vị tài trợ khai mạc chương trình “Hành trình gieo mầm xanh hy vọng”, tổ chức khám và phẫu thuật miễn phí cho trẻ em khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Cán bộ y tế giám sát véc-tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: TTXVN

Ảnh hưởng của sốt xuất huyết Dengue với sức khỏe

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do virus lây truyền qua muỗi vằn Aedes (muỗi vằn) khá nguy hiểm, hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Đáng lo ngại, căn bệnh này không còn là bệnh của riêng trẻ em mà ai cũng có thể mắc phải nếu không thực hiện các biện pháp dự phòng cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Quang cảnh lễ ký kết giữa các đơn vị.

Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh đồng hành chuẩn hóa quản lý bệnh mạn tính

Thực hiện định hướng chuyển từ chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện của ngành y tế, các bệnh viện, cơ sở y tế đang đóng vai trò hạt nhân về chuyên môn, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật trong chương trình tăng cường quản lý các bệnh mạn tính như tăng huyết áp và đái tháo đường trên phạm vi cả nước.