Bộ Tài chính đã xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nhằm thể chế hóa các nhiệm vụ tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Dự thảo tập trung xử lý các vấn đề tác động trực tiếp đến khả năng gia nhập thị trường và tiến độ triển khai dự án, gồm điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, phạm vi áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt và những vướng mắc liên quan dự án có đề nghị Nhà nước giao khu vực biển.
Rà soát những điều kiện đã trở thành rào cản
Theo dự thảo, căn cứ điều kiện kinh tế-xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Việc nới lỏng phải bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Đề xuất này không đồng nghĩa với mở cửa đồng loạt hoặc bãi bỏ toàn bộ điều kiện hiện hành. Phạm vi điều chỉnh vẫn được xem xét theo từng ngành, lĩnh vực, gắn với yêu cầu quản lý, quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Điểm mới là tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ chủ động điều chỉnh mức độ mở cửa khi điều kiện thực tế cho phép. Cách thiết kế này có thể rút ngắn độ trễ chính sách trong bối cảnh dòng vốn, công nghệ và chuỗi cung ứng quốc tế thay đổi nhanh, trong khi Việt Nam đang chuyển trọng tâm thu hút đầu tư từ số lượng sang chất lượng và hiệu quả.
Theo rà soát của Bộ Tài chính, Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện có 10 trong tổng số 91 ngành, phân ngành quy định điều kiện thành lập liên doanh nhưng không hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài.
Với quy định này, nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu tới 99,9% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế, nhưng vẫn phải tìm kiếm và duy trì một đối tác trong nước. Yêu cầu về hình thức có thể làm phát sinh thêm thủ tục, chi phí và thời gian gia nhập thị trường nhưng không tạo ra khác biệt đáng kể về tỷ lệ kiểm soát vốn.
Đây là một trong những điểm cần được rà soát để phân biệt các điều kiện thực sự cần thiết cho quản lý với những yêu cầu mang tính hình thức. Những điều kiện không còn phù hợp có thể được điều chỉnh theo lộ trình nhằm giảm chi phí gia nhập thị trường, mở rộng khả năng huy động vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị quốc tế.
Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, được khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng chỉ rõ chất lượng, hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng; liên kết với doanh nghiệp trong nước và chuyển giao công nghệ còn hạn chế.
Do đó, nới điều kiện tiếp cận thị trường cần gắn với yêu cầu về công nghệ, môi trường, liên kết sản xuất, giá trị gia tăng và đóng góp đối với năng lực tự chủ của nền kinh tế. Trong quá trình xây dựng nghị định hướng dẫn, Bộ Tài chính dự kiến phối hợp các bộ, ngành và hiệp hội doanh nghiệp tiếp tục rà soát những lĩnh vực có thể nới lỏng điều kiện phù hợp với lộ trình mở cửa.
Đưa cơ chế xử lý nhanh ra ngoài các khu chức năng
Cùng với điều kiện tiếp cận thị trường, dự thảo đề xuất mở rộng đối tượng được lựa chọn thực hiện thủ tục đầu tư đặc biệt, theo cơ chế “luồng xanh”.
Theo Điều 28 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, nhà đầu tư được lựa chọn thủ tục đầu tư đặc biệt đối với dự án thực hiện tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế. Phạm vi này không bị giới hạn theo ngành, lĩnh vực, trừ dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ.
Theo cơ chế này, nhà đầu tư đăng ký trên cơ sở cam kết đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn và quy chuẩn về xây dựng, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy cùng những yêu cầu liên quan. Việc áp dụng thời gian qua nhận được sự ủng hộ của nhà đầu tư và các ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế do góp phần rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục.
Dự thảo đề xuất mở rộng cơ chế đối với các dự án thuộc ngành, lĩnh vực quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Đầu tư về đối tượng được áp dụng ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, có khu đất thực hiện dự án thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức nhà nước nhưng nằm ngoài các khu chức năng nêu trên.
Đề xuất nhằm tạo thuận lợi cho dự án thuộc lĩnh vực cần ưu tiên thu hút nhưng địa điểm đầu tư không nằm trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao hoặc khu kinh tế. Đây cũng là bước thể chế hóa định hướng áp dụng thủ tục đặc biệt đối với dự án công nghệ chiến lược quy mô lớn, có tác động liên vùng, khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng và dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, “luồng xanh” không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm hoặc hạ thấp tiêu chuẩn. Việc rút gọn khâu tiền kiểm cần đi cùng cơ chế hậu kiểm, quy định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư và biện pháp xử lý khi cam kết không được thực hiện.
Dự thảo cũng xử lý vướng mắc đối với dự án có đề nghị Nhà nước giao khu vực biển. Theo Bộ Tài chính, pháp luật về giao khu vực biển chưa quy định việc lựa chọn nhà đầu tư, trong khi Luật Đầu tư chưa bao quát đầy đủ trường hợp chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư đối với loại dự án này.
Để tháo gỡ, dự thảo bổ sung trường hợp dự án “không thuộc diện đấu giá, đấu thầu theo quy định của pháp luật”, làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư.
Dự thảo đồng thời đề xuất giao Chính phủ quy định một số trường hợp được loại trừ khỏi thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Mục tiêu là loại trừ những hoạt động quy mô nhỏ của người dân, hộ gia đình như nuôi trồng thủy sản hoặc dịch vụ giải trí nhỏ lẻ, tránh áp dụng cùng một quy trình đối với dự án đầu tư lớn và hoạt động sinh kế quy mô nhỏ.
Việc phân loại cần có tiêu chí rõ về quy mô, diện tích, tính chất hoạt động và mức độ tác động đến tài nguyên, môi trường biển. Phạm vi loại trừ quá rộng có thể tạo khoảng trống trong quản lý; ngược lại, tiêu chí quá chặt sẽ khó đạt mục tiêu giảm thủ tục cho người dân.
Các đề xuất nới điều kiện tiếp cận thị trường, mở rộng “luồng xanh” và hoàn thiện thủ tục đối với dự án sử dụng khu vực biển cùng hướng tới giảm rào cản không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý. Hiệu quả chính sách sẽ phụ thuộc vào tiêu chí tại các văn bản hướng dẫn, tính minh bạch trong tổ chức thực hiện và năng lực giám sát sau khi dự án được chấp thuận.