Giám sát chất lượng nước ven biển bằng công nghệ viễn thám

Các nhà khoa học Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm) đã nghiên cứu, áp dụng thành công thuật toán ước tính Chlorophyll-a từ ảnh vệ tinh để đánh giá chính xác chất lượng nước ven biển, ven sông với quy mô lớn.

Hồ chứa nước ngọt Kênh Lấp, tỉnh Vĩnh Long. (Ảnh HOÀNG TRUNG)
Hồ chứa nước ngọt Kênh Lấp, tỉnh Vĩnh Long. (Ảnh HOÀNG TRUNG)

Đây là bước phát triển quan trọng của công nghệ viễn thám tại Việt Nam, mở ra hướng nghiên cứu mới trong giám sát chất lượng hệ sinh thái nước.

Chlorophyll-a (Chl-a) là chất chỉ thị sinh học phổ biến dùng để xác định sinh khối thực vật phù du trong nước. Chất này có mặt trong các thực vật bậc cao như: Tảo nâu, tảo xanh, vi khuẩn lam và là chỉ số đánh giá “sức khỏe”, mật độ tảo trong hệ sinh thái nước. Khi mật độ tảo càng cao, độ hòa tan ô-xy trong nước càng giảm, gây hại cho sinh vật thủy sinh.

Trước đây, việc theo dõi hàm lượng Chlorophyll-a thường dùng phương pháp quan trắc tự động. Tuy nhiên, phương pháp này gây tốn kém kinh phí, thời gian và nhân sự khi áp dụng cho quy mô lớn.

Trong khi đó, công nghệ viễn thám có thể bao phủ diện tích rộng, cập nhật thông tin liên tục thông qua ảnh vệ tinh. Hiện ảnh viễn thám đại dương được ứng dụng rộng rãi để nghiên cứu vật chất lơ lửng (SPM), hàm lượng Chl-a hoặc chất hữu cơ hòa tan màu (CDOM).

6dbb0e36-592e-40f5-ad2a-431b44d06a93.jpg
Thu thập các mẫu nước tại khu vực cửa biển Thuận An (thành phố Huế). Ảnh: Ái Ngân

Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ cấp Viện Hàn lâm “Nghiên cứu, phát triển thuật toán Chlorophyll-a cho ảnh VNREDSAT-1 và tương đương”, mã số: QTRU02.13/21- 22 đã được triển khai, thực hiện trên cơ sở chuyến khảo sát, nghiên cứu đa dạng sinh học và hóa sinh lần thứ bảy bằng tàu Viện sĩ Oparin trong vùng biển Việt Nam giữa Viện Hàn lâm với Viện Hóa sinh hữu cơ Thái Bình Dương (PIBOC), Phân viện Viễn Đông - Viện Hàn lâm Khoa học Nga - Liên bang Nga.

Về phía Việt Nam, Chủ nhiệm hợp phần nghiên cứu này là Thạc sĩ Chu Xuân Huy, Viện Công nghệ vũ trụ (nay là Trung tâm Vũ trụ Việt Nam) và phía Liên bang Nga, Chủ nhiệm nhiệm vụ là Tiến sĩ Dmitriy L.Aminin.

Thạc sĩ Chu Xuân Huy và nhóm nghiên cứu sử dụng ảnh viễn thám từ vệ tinh VNREDSAT-1, vệ tinh đầu tiên của Việt Nam và vệ tinh SENTINEL-2 do Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) cung cấp. Các ảnh thu thập được xử lý bằng công thức toán học kết hợp chuyển đổi giá trị số của ảnh dạng năng lượng phản xạ, hiệu chỉnh hình học và khí quyển phù hợp với thực tiễn, phần mềm Acolite...

Nhóm nghiên cứu đo đạc và lấy mẫu nước tại 74 điểm, trong đó 52 điểm (chiếm 70% số mẫu) dùng để xây dựng mô hình, 22 điểm (chiếm 30%) để đánh giá độ chính xác. Địa điểm thu thập mẫu nước là dọc sông Hương, phá Tam Giang, đầm Hà Trung, cửa biển Thuận An và vùng cửa sông, ven bờ biển của thành phố Huế. Khu vực này có đặc trưng dạng đầm phá ven biển. Trước đó, nhóm nghiên cứu thu thập bộ dữ liệu đo phổ, phân tích mẫu nước tại các cửa sông ven biển vịnh Bắc Bộ, Nha Trang và sông Mê Công.

Theo Thạc sĩ Chu Xuân Huy, nghiên cứu áp dụng chuỗi thuật toán OCx (x là từ 1,2,3,4,5 đến 6), là chuỗi thuật toán tính Chl-a thường được sử dụng trong nghiên cứu biển trên thế giới từ ảnh viễn thám. Tuy nhiên, trong hợp phần nghiên cứu này, các ảnh viễn thám từ vệ tinh VNREDSAT-1 có bốn kênh phổ (tương ứng các bước sóng gồm: Blue, Green, Red, Nir) và vệ tinh SENTINEL-2 có thêm một bước sóng Blue 1, nhóm nghiên cứu xác định thuật toán OC3 và OC6 phù hợp để tính toán hàm lượng Chl-a. Trong đó, thuật toán OC3 có độ chính xác cao hơn OC6 và áp dụng được cho vùng ven biển Việt Nam.

Kết quả phân tích các mẫu nước tại phòng thí nghiệm khi kết hợp thuật toán OC3 cho thấy, vùng nước ven bờ phía ngoài biển có nồng độ Chl-a cao hơn cửa sông, đầm phá, nhất là các khu nuôi trồng thủy sản. Khi so sánh khu vực phá Tam Giang phía bắc sông Hương với đầm Hà Trung phía nam thì càng về phía nam nồng độ Chl-a càng cao. Thuật toán OC3 áp dụng cho cả hai loại ảnh vệ tinh đều đạt hệ số xác định R2 hơn 0,7 với VNREDSAT-1 và hơn 0,8 với SENTINEL-2.

583b54ec-bbbd-4c8c-93b4-5e6aadc2a3fd.jpg
Bản đồ phân bố hàm lượng Chi-a tính từ ảnh Vệ tinh VNREDSAT-1. Ảnh : Ái Ngân

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hoàn, Viện Các khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm cho rằng: Nghiên cứu góp phần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ Trung tâm Vũ trụ Việt Nam và các thành viên tham gia nhiệm vụ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp viễn thám, đo đạc thực địa, lập trình hướng đối tượng hiện đại, phù hợp nội dung nghiên cứu. Nghiên cứu lựa chọn thuật toán phù hợp để tính toán hàm lượng Chl-a cho vùng biển Việt Nam từ ảnh vệ tinh VNREDSAT-1, SENTINEL-2...

Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc ứng dụng ảnh viễn thám trong quản lý, giám sát chất lượng nước biển, sông với quy mô lớn, giúp giảm thời gian, chi phí so với phương pháp truyền thống.

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động tại phòng thí nghiệm Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: Diệp Ngọc)

Chiến lược công nghệ lượng tử nhằm bảo vệ chủ quyền công nghệ, tích hợp không gian số toàn cầu

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, công nghệ lượng tử được đặt ở vị trí trung tâm, cụ thể hóa trong Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao tăng mạnh mức xử phạt.

Tăng mức xử phạt hàng loạt thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao

Từ 1/7/2026, Nghị định 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, thay thế nhiều quy định của Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Đáng chú ý, nhiều hành vi thường xuất hiện trong các vụ lừa đảo công nghệ cao... đã tăng mạnh mức xử phạt.

Một hội nghị của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao đổi về công tác thanh tra xử lý vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp.

Bước chuyển trong tư duy chính sách về sở hữu trí tuệ

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách, đưa sở hữu trí tuệ từ công cụ bảo hộ quyền thành nguồn lực phát triển quốc gia, gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi đồng bộ.

Diễn đàn châu Âu-châu Phi nhằm tăng cường hợp tác trong kỷ nguyên số. (Ảnh: ACCORD)

Đối phó thách thức tin giả

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song cũng tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch gia tăng không chỉ ở những khu vực công nghệ chưa phát triển đồng đều như châu Phi mà ở cả những nơi đã phát triển mạnh mẽ như châu Âu. 

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.