Một thay đổi đáng chú ý của Nghị định số 224/2026/NĐ-CP là chuyển từ số hóa các quy trình sẵn có sang thiết kế lại cách thức Nhà nước phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trình bày báo cáo về những điểm mới của Nghị định tại Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, diễn ra chiều 9/10 tại Hà Nội, ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho rằng, các quy định mới đang tạo nền tảng để chuyển đổi số đi vào thực chất hơn, từ xây dựng chiến lược, tổ chức hệ thống số đến cung cấp dịch vụ công và đầu tư cho chuyển đổi số.
| Nghị định số 224/2026/NĐ-CP, ban hành ngày 24/6/2026, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số. Các quy định bao quát việc xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thiết kế hệ thống số và quản lý nguồn lực. |
Giảm khai báo, chủ động phục vụ người dân
Tại Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia Trần Duy Ninh nhấn mạnh, cần đi thẳng vào những bài toán còn mở để tạo ra thay đổi thực chất trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đời sống người dân, doanh nghiệp. Theo ông, một khối lượng lớn dữ liệu đã được hình thành thông qua các cơ sở dữ liệu quốc gia, trọng yếu và chuyên ngành. Điều người dân cần được hưởng là chỉ khai báo một lần, dữ liệu được sử dụng lại và dịch vụ công được cung cấp chủ động.
Điều 15 Nghị định số 224/2026/NĐ-CP cụ thể hóa hướng chuyển này bằng yêu cầu kết nối, khai thác các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và cơ sở dữ liệu dùng chung của cơ quan nhà nước theo quy định pháp luật. Dữ liệu được sử dụng để tự động điền thông tin vào biểu mẫu điện tử, cắt giảm thành phần hồ sơ, bảo đảm nguyên tắc tổ chức, cá nhân chỉ cung cấp thông tin một lần cho cơ quan nhà nước trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến.
Quy định này gắn trách nhiệm khai thác thông tin với cơ quan cung cấp dịch vụ. Để giảm việc khai báo lại, dữ liệu phải được cập nhật chính xác, kết nối thông suốt và sử dụng đúng phạm vi. Các cơ quan cần đồng thời rà soát biểu mẫu, thành phần hồ sơ và hoàn thiện cơ sở dữ liệu để thông tin đã có được khai thác, tái sử dụng trong giải quyết thủ tục.
Điều 16 quy định bốn mức độ dịch vụ công trực tuyến chủ động, từ nhắc thực hiện đến chuẩn bị hồ sơ, khuyến nghị phương án dịch vụ và tự động thực hiện. Trên cơ sở dữ liệu sẵn có, cơ quan nhà nước có thể phát hiện thời điểm, sự kiện hoặc nghĩa vụ phát sinh để thông báo, hướng dẫn người dân; chuẩn bị hồ sơ điện tử để người sử dụng xác nhận, bổ sung thông tin nếu cần và quyết định tiếp tục thực hiện.
Ở mức chuẩn bị hồ sơ, cơ quan nhà nước chủ động tạo lập hồ sơ điện tử từ các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu sẵn có; tổ chức, cá nhân xác nhận, bổ sung thông tin nếu cần và quyết định tiếp tục thực hiện. Ở mức tự động thực hiện, việc giải quyết thủ tục không yêu cầu nộp hồ sơ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người dân được thông báo kết quả và có quyền xác nhận, từ chối hoặc yêu cầu điều chỉnh.
Các mức độ chủ động này giúp giảm công sức tìm hiểu và chuẩn bị thủ tục, nhưng cần được triển khai phù hợp với chất lượng dữ liệu và khả năng vận hành của từng dịch vụ. Điều 17 yêu cầu ưu tiên lĩnh vực có dữ liệu đầy đủ, chính xác, thực hiện thí điểm, đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng. Việc khai thác dữ liệu phải đúng thẩm quyền, đúng mục đích, có căn cứ pháp lý rõ ràng và bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát, truy vết.
Sự thuận tiện còn thể hiện ở khả năng theo dõi hồ sơ. Nghị định yêu cầu cơ quan nhà nước thông báo tối thiểu về cơ quan, người tiếp nhận và giải quyết hồ sơ, thời gian tiếp nhận, xử lý, trả kết quả. Tình trạng giải quyết thay đổi phải được thông báo ngay cho người sử dụng, việc thông báo được thực hiện theo thời gian thực, dựa trên dữ liệu. Cùng với đó, hệ thống phải có giao diện thân thiện, dễ sử dụng, an toàn, bảo mật và hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận.
Khả năng tiếp cận cần được tính đến ngay trong thiết kế dịch vụ. Người cao tuổi, người khuyết tật, hộ nghèo và các nhóm yếu thế còn gặp khó khăn về thiết bị, kết nối Internet và kỹ năng sử dụng công nghệ. Việc hướng dẫn của chính quyền cơ sở, tổ công nghệ số cộng đồng và các đoàn thể cần đơn giản, phù hợp từng đối tượng, đồng thời giúp người dân nhận diện nguy cơ mất an toàn thông tin.
Dịch vụ trực tuyến vì vậy cần kết hợp với hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở. Biểu mẫu dễ hiểu, đầu mối hướng dẫn rõ ràng và phương án hỗ trợ người không thể tự thao tác sẽ giúp người dân tiếp cận chính sách, dịch vụ công thuận lợi hơn.
Tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thực hiện
Cùng với khai thác dữ liệu, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia Trần Duy Ninh nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý chất lượng và đo lường hiệu quả của các hệ thống số, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp. Chuyển đổi số cần bảo đảm sự thống nhất trong quản trị quốc gia, đồng thời tạo điều kiện cho địa phương chủ động, sáng tạo phù hợp với đặc thù riêng.
Đáp ứng những yêu cầu đó, các cơ chế mới về thử nghiệm, đầu tư, mua sắm và thuê dịch vụ chuyển đổi số được Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia Lê Anh Tuấn đề cập trong báo cáo hướng tới tháo gỡ vướng mắc trong triển khai.
Theo thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, cơ chế mới cho phép hỗ trợ tối đa 30% kinh phí thử nghiệm, nhưng không quá 15 tỷ đồng/doanh nghiệp/nhiệm vụ thử nghiệm. Khoản hỗ trợ này giúp doanh nghiệp chia sẻ một phần chi phí trong quá trình kiểm chứng giải pháp.
Đối với nhiệm vụ phát triển nền tảng số quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ chế đặc thù cho phép một doanh nghiệp thực hiện xuyên suốt từ nghiên cứu, lập dự án, thiết kế đến triển khai, nhằm tăng tính đồng bộ và bảo đảm tiến độ. Đối với phần mềm nội bộ, quy định mới cho phép một doanh nghiệp thực hiện cả thiết kế và triển khai. Cách tổ chức này giúp việc thiết kế, xây dựng và kiểm thử phối hợp chặt chẽ hơn, thuận lợi cho điều chỉnh phần mềm theo nhu cầu thực tế của người sử dụng.
Một nội dung khác là trách nhiệm trong lấy báo giá. Chủ đầu tư thực hiện đầy đủ, công khai, minh bạch việc lấy báo giá theo quy định sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với trường hợp doanh nghiệp nâng khống giá, trách nhiệm thuộc doanh nghiệp cung cấp báo giá.
Cơ chế mới cũng cho phép chỉ định doanh nghiệp đã phát triển phần mềm tiếp tục thực hiện quản trị, vận hành hệ thống, thuận lợi hơn trong bảo trì và xử lý sự cố. Duy trì hệ thống ổn định là điều kiện để các dịch vụ trên môi trường số được cung cấp liên tục.
Cùng với cơ chế triển khai, việc xây dựng kế hoạch cần bám sát hiện trạng. Nghị định yêu cầu đánh giá kết quả giai đoạn hoặc năm trước, xác định mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, kinh phí và nguồn lực thực hiện. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật, yêu cầu rà soát, hoàn thiện những nội dung chưa thống nhất hoặc có nguy cơ chồng chéo, trùng lặp.
Các cơ chế mới cần được cụ thể hóa trong từng dịch vụ và kế hoạch triển khai, với trách nhiệm rõ ràng của cơ quan thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cần xác định dữ liệu sử dụng, nguồn lực và điều kiện duy trì hệ thống sau đầu tư. Hiệu quả triển khai cần được đánh giá qua những giấy tờ được cắt giảm, thời gian xử lý được rút ngắn, sự ổn định của hệ thống và mức độ thuận tiện của người dân mỗi lần làm thủ tục.