Cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xây dựng để thu hẹp khoảng cách ấy. Điểm đáng chú ý không chỉ là Nhà nước đặt hàng nghiên cứu. Quan trọng hơn là cách đặt hàng từ nhu cầu thực tế, xác định rõ nơi sử dụng, sản phẩm đầu ra, tiêu chí đánh giá và trách nhiệm của các bên ngay từ đầu.
Thủ đô mở đường đặt hàng nhiệm vụ
Ngày 25/9, gần 200 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ số, các hiệp hội, viện nghiên cứu, trường đại học đã tham gia Phiên đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xuất phát từ nhu cầu doanh nghiệp lần thứ nhất do Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội tổ chức.
Điều đáng chú ý ở phiên đặt hàng này không nằm ở số lượng đề xuất. Cách tiếp cận đã có sự thay đổi, không bắt đầu bằng câu hỏi “Có đề tài gì để nghiên cứu?” mà bắt đầu bằng câu hỏi “Doanh nghiệp, thành phố đang cần giải quyết vấn đề gì?”.
Tại phiên đầu tiên, 18 doanh nghiệp, hiệp hội và tổ chức đã đưa ra 36 bài toán, nhiệm vụ. Các đề xuất trải rộng từ chuyển đổi số, nâng cao năng suất lao động, đào tạo nghề, an sinh xã hội đến an toàn cháy nổ, cứu hộ, cứu nạn, truy xuất nguồn gốc, môi trường, logistics...
Tại Hội nghị xử lý điểm nghẽn của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo và công nghệ số ngày 30/9, ông Trương Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội cho rằng, điểm nghẽn không hẳn nằm ở việc thành phố thiếu cơ chế, chính sách. Hà Nội đã có Luật Thủ đô và hệ thống các nghị quyết chuyên đề về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vấn đề quan trọng hơn là tổ chức thực thi và đưa chính sách đến đúng doanh nghiệp đang có nhu cầu.
“Cần chuyển từ cách làm “có chính sách, ai cần thì đến” sang “có chính sách thì phải tìm đúng người cần chính sách đó. Với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo hay công nghệ số, khó khăn không chỉ là thiếu vốn hoặc thiếu công nghệ. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp còn không biết mình được hưởng chính sách nào, phải bắt đầu từ đâu, hồ sơ đi qua những khâu nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm giải quyết”, ông Dũng nói.
Cách tiếp cận này cũng được Hà Nội đặt trong mối quan hệ với cơ chế đặt hàng. Muốn doanh nghiệp giải được bài toán của thành phố thì trước hết thành phố phải giúp doanh nghiệp nhìn thấy bài toán, nhìn thấy cơ chế và nhìn thấy con đường để tham gia. Đó cũng là lý do Hà Nội yêu cầu mỗi đề xuất phải từng bước làm rõ nhu cầu, địa chỉ ứng dụng, đối tượng sử dụng, sản phẩm và tiêu chí đánh giá.
Ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội khẳng định, việc xử lý phải theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thời hạn, rõ thẩm quyền”. Những đề xuất chưa đủ căn cứ sẽ tiếp tục được làm rõ, không ép thành nhiệm vụ nghiên cứu.
Sau phiên đầu tiên, Sở tiếp nhận 36 bài toán, trong đó 16 nhiệm vụ đề xuất ngân sách thành phố bố trí một phần hoặc hợp tác công, tư; 7 đề xuất doanh nghiệp tự đối ứng toàn bộ. Một số nhiệm vụ đã bước đầu xác định nhu cầu kinh phí khoảng 68 tỷ đồng. Sở đặt mục tiêu làm rõ từ 5 đến 7 phiếu bài toán, kết nối đối tác cho 3 đến 5 bài toán và lựa chọn 2 đến 3 nội dung đủ căn cứ để chuẩn bị hồ sơ nhiệm vụ hoặc kết nối triển khai.
Như vậy, một phiên đặt hàng chỉ thật sự có ý nghĩa khi sau đó có người xử lý, thời hạn xử lý và sản phẩm đầu ra. Nói cách khác, địa chỉ của kết quả nghiên cứu phải được tính đến ngay từ khi bắt đầu. Đây cũng là yêu cầu phù hợp với tinh thần của Nghị định số 267/2025/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 14/10/2025, quy định chi tiết về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước.
Khi Nhà nước trở thành khách hàng đầu tiên
Nếu “đặt hàng” là cách Nhà nước nêu bài toán, thì “khách hàng đầu tiên” là bước tiếp theo để đưa lời giải ra đời sống. Tập đoàn ô-tô Hiệp Hòa là một thí dụ. Doanh nghiệp đã nghiên cứu, thiết kế, sản xuất các dòng xe chuyên dụng phục vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, môi trường và an ninh. Nhưng theo ông Đào Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn, khó khăn nằm ở thị trường đầu ra, chi phí kiểm thử và thời gian thương mại hóa.
“Khi sản phẩm đã hoàn thiện, đạt kiểm định, Nhà nước có thể ưu tiên mua thông qua mua sắm công; đồng thời hỗ trợ hạ tầng kiểm nghiệm, chứng nhận sản phẩm. Nếu doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu, Nhà nước có thể mua những sản phẩm đầu tiên, với điều kiện doanh nghiệp bảo đảm giá cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu”, ông Hùng nói.
Theo Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Anh Tú, doanh nghiệp có thể đầu tư nguồn lực lớn cho nghiên cứu và phát triển, nhưng nếu không có môi trường triển khai thực tế, sản phẩm khó hoàn thiện và càng khó thương mại hóa.
Một sản phẩm công nghệ cần được thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện qua sử dụng thực tế. Vì vậy, Nhà nước đóng vai trò “khách hàng đầu tiên” đối với những sản phẩm công nghệ phù hợp có thể tạo ra thị trường ban đầu, đồng thời giúp doanh nghiệp có điều kiện hoàn thiện sản phẩm và chứng minh năng lực.
Cùng với cơ chế đặt hàng, một môi trường để doanh nghiệp có thể mạnh dạn nghiên cứu, thử nghiệm và từng bước ứng dụng khoa học công nghệ cũng được xây dựng. Đó là “sandbox”, hay còn gọi là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Tại Hà Nội, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với những lĩnh vực như công nghệ số, viễn thông, công nghệ sinh học, vật liệu mới, đô thị thông minh và y tế thông minh. Hai trường hợp đã được phép thử nghiệm là hệ thống giao thông tự hành của Phenikaa-X và dự án thử nghiệm công nghệ chế biến đất hiếm ở quy mô bán công nghiệp.
Qua sandbox, công nghệ được vận hành trong thực tế, doanh nghiệp có dữ liệu để hoàn thiện sản phẩm, còn cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá rủi ro, hoàn thiện quy trình và tiêu chuẩn. Từ góc nhìn của lãnh đạo thành phố, đây cũng là bước chuyển từ hỗ trợ doanh nghiệp về thủ tục sang đồng hành với doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo.
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng nhấn mạnh, thành phố không muốn doanh nghiệp khoa học, công nghệ phải tự “bơi” giữa các chính sách. Thay vào đó, chính quyền cần chủ động xác định doanh nghiệp nào đang cần chính sách nào, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận đúng cơ chế, đồng thời kết nối thị trường cho những sản phẩm công nghệ đáp ứng yêu cầu.
“Hà Nội hướng tới trở thành bà đỡ cho doanh nghiệp, trong đó có việc xem xét trở thành khách hàng đầu tiên đối với những sản phẩm công nghệ, sản phẩm thử nghiệm sandbox thành công, phù hợp với nhu cầu và quy định pháp luật”, ông Dũng nói.
Từ câu chuyện của Hà Nội, nếu triển khai hiệu quả có thể mở ra những mô hình điểm trong việc triển khai cơ chế đặt hàng cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ thời gian tới. Mục tiêu là tránh tình trạng “nghiên cứu xong mới đi tìm người dùng”, hay “thử nghiệm xong để doanh nghiệp tự hỏi ai mua” vốn là nút thắt khó gỡ trong hoạt động nghiên cứu và sáng tạo thời gian qua.