Nếu chọn một nơi để "thử", theo tôi, ngay từ đầu cần tránh hai thái cực. Một là chọn nơi quá thuận lợi - thu nhập cao, hạ tầng đã tốt, bộ máy đã mạnh, cơ cấu dân cư quá đặc biệt - để thành công gần như được bảo đảm. Hai là chọn nơi quá khó khăn khiến ta phải dồn mọi nguồn lực phát triển. Một thí điểm chỉ đáng làm khi điểm xuất phát của nó đủ thuận lợi để thay đổi, nhưng cũng đủ bình thường để nơi khác học được.
Tổ chức đúng không gian
“Phường, xã xã hội chủ nghĩa” ở đây cần được hiểu như một phép thử về năng lực tổ chức đời sống ở cấp cơ sở: bộ máy có gần dân hơn không, dịch vụ công có đến đúng người hơn không, chi phí sống có giảm không, người dân có được tham gia nhiều hơn không, và các nhóm dân cư khác nhau có cùng được hưởng lợi hay không.
Nói cách khác, vấn đề không chỉ là xây gì, mà là thử điều gì. Một con đường mới, một công viên mới, một trụ sở mới hay một khu dân cư mới có thể làm một nơi khang trang hơn, nhưng chưa đủ chứng minh rằng ta đã tìm được một mô hình xã hội có thể nhân rộng. Phép thử phải chạm vào những yếu tố cốt lõi: cơ chế phối hợp giữa các ngành, cách phân bổ ngân sách, sử dụng đất đai, cung cấp dịch vụ công, cách người dân tham gia quyết định việc chung, và cách đo lường sự thay đổi trong đời sống hằng ngày.
Muốn vậy, trước hết phải xác định đúng quy mô. Quy mô của một cộng đồng không phải con số tùy chọn, mà do mục tiêu xã hội quyết định. Khoảng 5.000 đến 10.000 người tạo đủ nhu cầu cho một trường tiểu học và một công viên trong tầm đi bộ; đó là quy mô của một đơn vị ở. Vài đơn vị ở hợp lại mới đủ cho trường trung học, chợ, trạm y tế và những dịch vụ hằng ngày của một phường. Lớn hơn nữa, khoảng 150.000 đến 300.000 người mới đủ lý do để tổ chức bệnh viện đa khoa, trung tâm văn hóa - thể thao, giao thông công cộng nội vùng và các thiết chế công cộng quy mô lớn.
Nhìn từ số liệu hành chính mới, một phường hay một xã hiện nay chưa đủ lớn để kiểm chứng đầy đủ một mô hình xã hội thu nhỏ. Dân số trung bình một phường hiện khoảng 63.000 người; một xã khoảng 23.000 người. Nếu muốn thí điểm một hệ sinh thái dịch vụ công cấp đô thị, quy mô thấp nhất không nên dưới 200.000 người. Dưới ngưỡng ấy, ta có thể làm tốt một khu ở, một phường đẹp, một xã văn minh; nhưng rất khó kiểm chứng đầy đủ các thiết chế về y tế, giáo dục nghề nghiệp, giao thông công cộng, văn hóa và an sinh cho nhiều nhóm dân cư.
Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở quy mô 500.000 đến 1 triệu dân, con số ấy không nên được hiểu như sự phóng đại hành chính. Nó chạm đến một tầng bậc khác: thị trường lao động và sự đa dạng xã hội. Một cộng đồng vài vạn người có thể là nơi ở tốt, nhưng khó là một nền kinh tế hoàn chỉnh. Ở quy mô 500.000 đến 1 triệu dân, mô hình mới có cơ hội tạo ra đủ ngành nghề, doanh nghiệp và dịch vụ để nhiều cư dân tìm được việc làm ngay trong nơi mình sống, tránh cái bẫy “đô thị để ngủ”. Quy mô ấy cũng đủ lớn để các vấn đề thật của xã hội cùng xuất hiện: nhà ở, việc làm, giáo dục, y tế, giao thông, môi trường, văn hóa, an sinh và quản trị cơ sở.
Từ đó có thể rút ra nguyên tắc chọn nơi thí điểm. Không nên chọn nơi giàu nhất, nghèo nhất, đông dân quá đặc thù, hay có cơ cấu dân số quá khác phần còn lại của địa phương. Các chỉ số nên nằm quanh mức trung vị: thu nhập không quá cao cũng không quá thấp, tỷ lệ hộ nghèo và lao động phi chính thức không quá dị biệt, cơ cấu tuổi và nghề nghiệp đủ đa dạng, hạ tầng ở mức còn phải phát triển, bộ máy có năng lực tiếp nhận đổi mới. Nơi được chọn phải có khả năng thành công, nhưng thành công của nó phải là lời giải hữu ích cho những nơi khác.
Phạm vi thí điểm cũng không nên bó hẹp trong đường ranh hành chính của một phường hoặc xã, nếu đường ranh ấy không phản ánh một hệ thống đời sống hoàn chỉnh. Có thể chọn một phường hoặc xã làm hạt nhân chính trị - hành chính, nhưng phạm vi kiểm chứng nên là một không gian chức năng: nơi người dân ở, học, làm việc, khám, chữa bệnh và sinh hoạt trong cùng một hệ thống. Đó cũng có thể là một cụm phường - xã liên thông, hoặc một đô thị trung tâm của tỉnh cùng vùng ven gắn bó hữu cơ với nó. Ở đây có thể thử nghiệm một cơ chế điều phối mới ở cấp cơ sở mở rộng: chính quyền gần dân hơn, nhưng vẫn nhìn được không gian phát triển như một chỉnh thể.
Cơ chế ấy không nhất thiết phải tạo thêm một tầng nấc hành chính. Điều cần hơn là một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả, một bộ dữ liệu chung để ra quyết định, một ngân sách có thể lồng ghép nhiều nguồn lực, và một quy trình để người dân tham gia từ sớm.
Bên trong mô hình ấy, quy mô lớn mới chỉ là điều kiện cần; điều quyết định là cách tổ chức. Một đô thị tự chủ không phải là một khối dân cư khổng lồ, mà là một chuỗi những đơn vị ở gắn kết. Mỗi đơn vị phải trộn lẫn chỗ ở với việc làm, trường học, cửa hàng, dịch vụ công và không gian xanh, sao cho phần lớn nhu cầu hằng ngày nằm trong vài phút đi bộ hoặc một chặng giao thông công cộng.
Xây dựng đúng tiêu chí
Một điểm quan trọng là cần nhìn thẳng vào thực trạng đô thị nước ta. Phần lớn khu đô thị mới đang mắc những căn bệnh mà mô hình này cần chữa: thiếu cây xanh, công viên, mặt nước; thiếu trường học, trạm y tế, sân chơi; kết nối hạ tầng yếu; nhà ở xa nơi làm việc. Ta đã xây rất nhiều “chỗ ở”, nhưng chưa xây được bao nhiêu “nơi sống”. Một phường xã hội chủ nghĩa phải trả lời được những câu hỏi rất đời thường: gia đình trẻ có mua nổi nhà không, con có chỗ học gần nhà không, người già có trạm y tế trong tầm đi bộ không, người lao động có tìm được việc làm trong cùng vùng đô thị không, người dân có công viên, thư viện, chợ và không gian sinh hoạt cộng đồng thuận tiện không.
Mô hình này cũng phải tìm được bước đột phá về chi phí nhà ở. Đây là nỗi nhức nhối lớn nhất của đô thị Việt Nam. Việt Nam có một lợi thế hiếm có để thay đổi điều này: chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Khi đất thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước có thể tổ chức phát triển nhà ở theo giá gốc và giữ phần địa tô tăng thêm cho cộng đồng, thay vì để toàn bộ giá trị ấy chảy vào đầu cơ. Đất tăng giá nhờ đường sá, trường học, công viên và metro do xã hội đầu tư thì phần giá trị tăng thêm ấy phải quay lại phục vụ xã hội.
Đó là cách một nền kinh tế đô thị tự nuôi lấy phúc lợi của mình. Khi đó, công bằng xã hội không còn là phần chi thêm sau tăng trưởng, mà trở thành nguyên tắc tổ chức ngay từ đầu của quá trình phát triển đô thị. Một mô hình xã hội chủ nghĩa ở cấp cơ sở, nếu muốn có sức thuyết phục, phải chứng minh được rằng Nhà nước có thể dùng công cụ đất đai và quy hoạch để kéo chi phí sống xuống, nâng chất lượng sống lên, và làm cho thành quả phát triển đến được với người lao động bình thường.
Tổ chức không gian, nếu làm tới nơi, còn chạm tới dân chủ cơ sở và văn hóa cộng đồng. Dân chủ không chỉ cần quy trình, mà cũng cần nơi chốn cụ thể: nhà sinh hoạt cộng đồng, quảng trường, sân chơi, thư viện, hành lang đi bộ, nơi người dân gặp nhau, bàn bạc và cùng quyết định. Văn hóa cũng không nên là tấm vé vào cửa để sàng lọc cư dân, mà là điều được nuôi lớn trong một môi trường sống tốt: con phố an toàn, sân chơi nơi trẻ nhỏ và người già gặp nhau, khoảng sân chung để hàng xóm còn biết mặt nhau... Cũng từ góc nhìn ấy, cần thận trọng khi đặt tiêu chí. Nếu xét các điều kiện về dân trí, kinh tế... cho ai được vào ở thì vô tình dựng lên một bộ lọc, khiến mô hình không còn điển hình.
Khi cải tạo một phường hay xã đã có, thứ quý giá nhất cần gìn giữ thường không nằm trên bản vẽ. Đó là mạng lưới đời sống đã bám rễ ở đó: tình làng nghĩa xóm, những lề thói gắn kết con người qua nhiều thế hệ, ký ức về một địa danh, niềm tự hào của một cộng đồng. Một bản sắc văn hóa không thể dựng lên bằng công trình; nó chỉ lớn lên trong những không gian cho phép con người sống cùng nhau. Nhiệm vụ của quy hoạch là nâng niu mạng lưới ấy, bổ sung hạ tầng còn thiếu, mở rộng cơ hội phát triển, chứ không phải san phẳng rồi xây lại từ đầu.
Cải tạo hay xây mới?
Về hai phương án Tổng Bí thư gợi mở - cải tạo một đơn vị có sẵn hoặc xây mới - theo tôi nên làm cả hai, nhưng với vai trò khác nhau. Xây mới có ích để kiểm chứng một mô hình được thiết kế đồng bộ từ đầu: hạ tầng ngầm, năng lượng, giao thông, nhà ở vừa túi tiền, việc làm và dịch vụ công. Nhưng bài học quý nhất, và cũng khó nhất, nằm ở việc cải tạo một nơi điển hình, nơi hàng trăm nghìn người đang sống, nơi có cả cái tốt cần giữ và cái yếu cần sửa.
Cuối cùng, một mô hình thí điểm chỉ có ý nghĩa nếu nó để lại được phương pháp. Sau vài năm, điều cần có không chỉ là một nơi khang trang hơn, mà là một bộ bài học có thể chuyển giao nhân rộng. Nó phải là một nơi chốn có thật - nơi một lý tưởng được kiểm chứng bằng chính đời sống mà nó tạo ra mỗi ngày, và nơi bài học thành công có thể đi tiếp sang những cộng đồng khác.
Thành công của thí điểm, vì thế, không nằm ở việc tạo ra một ngoại lệ đẹp. Thành công là chứng minh được rằng một nơi bình thường, nếu được trao đúng cơ chế, tổ chức đúng không gian, đo đúng kết quả và có sự tham gia thật của người dân, có thể trở nên đáng sống hơn. Đó mới là phép thử đáng làm, và đáng để nhân rộng.
Tác giả Nguyễn Đỗ Dũng là Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn quốc tế enCity, cựu giảng viên cao học Đại học Quốc gia Singapore, chuyên gia quy hoạch đô thị với kinh nghiệm tham gia quy hoạch và thiết kế các dự án phát triển đô thị quy mô lớn tại hơn 10 quốc gia.