Chấm dứt HIV/AIDS tại Việt Nam: Thách thức và giải pháp bền vững

Chấm dứt HIV/AIDS tại Việt Nam: Thách thức và giải pháp bền vững

Sau hơn 3 thập kỷ nỗ lực kiểm soát HIV/AIDS, Việt Nam đang đối diện bước ngoặt mới khi nguồn viện trợ thu hẹp, các nhóm cộng đồng suy yếu, nhiều khoảng trống về chính sách. Việc tìm lời giải bền vững cho bài toán ấy là điều kiện tiên quyết để Việt Nam không đánh mất đà hiện thực hóa mục tiêu chấm dứt HIV/AIDS vào năm 2030.

Những người “giữ lửa” cho công tác phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam

Đến hết năm 2024, cả nước ghi nhận 245.762 người nhiễm HIV còn sống và 116.004 người nhiễm HIV tử vong lũy tích. Dịch HIV diễn biến phức tạp tại phía nam, với hơn 40% số ca nhiễm mới là nhóm người MSM. Công tác phòng, chống HIV/AIDS vẫn còn lỗ hổng lớn khi số người nhiễm mới vẫn cao, tỷ lệ biết tình trạng chưa đạt mục tiêu, nhiều hạn chế trong tiếp cận nhóm nguy cơ cao.

Năm 2025, Việt Nam chọn chủ đề “Đoàn kết là sức mạnh – Chung tay chấm dứt dịch bệnh AIDS” – một lần nữa, kêu gọi sự vào cuộc của cả cộng đồng. Trong hành trình này, dù các nguồn lực tài chính đang giảm dần, Việt Nam vẫn đang nỗ lực có những giải pháp để lấp đi những khoảng trống trong công tác phòng, chống HIV. Trong hành trình ấy, có nhiều người vẫn chọn ở lại một cách thầm lặng, vì một cộng đồng không còn HIV.

Bài 1: Những "chiến binh không tên" trong cuộc phòng, chống HIV/AIDS

Bài 2: Khoảng trống cộng đồng - Thách thức thầm lặng trong hành trình chống HIV

hiv33.jpg

Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả được thế giới ghi nhận với những chỉ số: Tỷ lệ nhiễm HIV mới giảm mạnh, số người tử vong do AIDS và ca nhiễm mới qua đường mẹ truyền sang con đều được khống chế. Hàng trăm nghìn người nhiễm HIV đang được điều trị bằng thuốc ARV, giúp họ có cuộc sống khỏe mạnh và hòa nhập cộng đồng.

Chiến lược mở rộng tầm soát, triển khai nhiều mô hình cung cấp dịch vụ PrEP, bao gồm: mô hình cố định, kết hợp giữa cố định và lưu động, và từ xa, được xem là "vaccine" để phòng bệnh HIV/AIDS cho giới trẻ.

Việt Nam đã triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ đa dạng và linh hoạt. Ngoài các cơ sở điều trị HIV/AIDS công lập và tư nhân, Việt Nam đã có các mô hình cung cấp dịch vụ lưu động và tiếp cận cộng đồng, giúp mang dịch vụ đến gần hơn với các nhóm nguy cơ cao.

Chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự, cộng đồng người nhiễm HIV và các đối tác phát triển phối hợp chặt chẽ, tiếp tục nỗ lực giảm kỳ thị và phân biệt đối xử để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm nguy cơ cao tiếp cận và sử dụng các dịch vụ phòng ngừa và điều trị HIV.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn ghi nhận gia tăng số người nhiễm HIV, đặc biệt nghiêm trọng khi dịch bệnh đang tấn công mạnh vào nhóm thanh niên - lực lượng lao động chính của xã hội. Trong 9 tháng đầu năm 2025, cả nước ghi nhận 6.973 người nhiễm HIV phát hiện mới và 1.108 người nhiễm HIV tử vong. Số người nhiễm HIV đang còn sống là 251.958 trường hợp; tổng số người nhiễm HIV tử vong lũy tích là 117.112 trường hợp.

visual-selection-5.png
Thống kê số ca nhiễm và tử vong 9 tháng đầu năm 2025 và tích lũy.

Để ngăn chặn xu hướng gia tăng nhanh chóng của dịch HIV trong nhóm nam quan hệ đồng tính (hình thái lây nhiễm chiếm phần lớn hiện nay) và những người có hành vi nguy cơ cao, việc mở rộng điều trị dự phòng trước phơi nhiễm-PrEP trên toàn quốc là một trong những chiến lược quan trọng hàng đầu.

Việt Nam đã triển khai cung cấp dịch vụ PrEP với hơn 200 cơ sở với các mô hình khác nhau. Trong giai đoạn 2020-2024, cả nước đã có 111.159 người sử dụng PrEP ít nhất một lần, và tỷ lệ duy trì điều trị từ 3 tháng trở lên đạt hơn 70%. WHO đã đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc áp dụng các khuyến cáo mới vào chương trình HIV quốc gia. PrEP có hiệu quả giảm nguy cơ nhiễm HIV qua đường tình dục lên tới 97% và qua tiêm chích đến 74% nếu tuân thủ điều trị tốt.

z7217517834881-e599f2d2843e7953c7fdff1dd0230234-2839.jpg
Những tờ rơi về tư vấn dùng PrEP là những vật dụng quen thuộc trong hành trình tư vấn cho đối tượng nguy cơ trong nhóm MSM.

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu 40% MSM được điều trị PrEP để ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng vào năm 2030 theo Chiến lược Quốc gia về chấm dứt HIV/AIDS, Việt Nam đang gặp rất nhiều thách thức. Mặc dù số lượng người sử dụng PrEP đã tăng, tỷ lệ nam giới quan hệ đồng tính (MSM) sử dụng PrEP vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra. Những đối tượng nguy cơ khi sử dụng PrEP không tuân thủ phác đồ điều trị đầy đủ, dẫn đến việc giảm hiệu quả của thuốc.

Tính đến 31/7/2025, có 221 cơ sở tại 34 tỉnh, thành phố cung cấp dịch vụ PrEP, với 59.329 khách hàng tiếp cận, trong đó tỷ lệ duy trì điều trị trên 3 tháng đạt 81%.

Người sử dụng PrEP vẫn phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử, điều này ảnh hưởng đến việc họ tìm kiếm và duy trì sử dụng dịch vụ. Sự kỳ thị, phân biệt đối xử và tính ẩn của nhóm nguy cơ cao làm người ta e ngại đến xét nghiệm.

Nhiều chuyên gia khẳng định chỉ có dựa vào cộng đồng mới dập được dịch HIV vì hình thái lây nhiễm ở Việt Nam rất khác biệt, chủ yếu trong nhóm MSM. Các nhóm trẻ, MSM, mại dâm, người dùng ma túy là những nhóm mới nổi/nhóm “khó tiếp cận”. Các hoạt động tạo cầu tiếp cận với quần thể đích để có tối đa số lượng quần thể này biết PrEP, lựa chọn sử dụng và tuân thủ điều trị PrEP qua các CBO đang giảm mạnh.

z7217517825217-c2499ba70ccc8f0d07947be74839d8fe-5584.jpg
Các bạn trẻ nhóm MSM muốn tìm đến những dịch vụ thân thiện tại các cơ sở y tế tư nhân, doanh nghiệp xã hội.

Khi những “cánh tay nối dài” của hệ thống y tế rơi vào tình cảnh "thoái trào", đối tượng nguy cơ cao ít được tiếp cận, dẫn đến tăng tỷ lệ nhiễm HIV chưa được chẩn đoán. Và khi không có ai ở bên “dẫn đường”, mảnh ghép đầu tiên trong chuỗi 95–95–95 là phát hiện sớm có nguy cơ cao bị đứt gãy.

Theo số liệu được công bố cuối năm 2024, Việt Nam có khoảng 87% người biết tình trạng nhiễm HIV; 79% người biết tình trạng nhiễm HIV được điều trị ARV; 96% người được điều trị ARV có tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế. Kết quả này cao hơn mức trung bình của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tiệm cận mức toàn cầu, thể hiện nỗ lực và hiệu quả của chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam.

hiv5-8513.jpg

Tuy nhiên, trong 3 chỉ số này, mới chỉ có chỉ số thứ ba đạt mục tiêu 95–95–95 vào năm 2030. Khi không có các biện pháp phát hiện sớm đối tượng nguy cơ, sẽ không thể đưa khách hàng nguy cơ đi xét nghiệm khẳng định, giới thiệu vào điều trị dự phòng PrEP, hoặc đưa ca dương tính vào điều trị sớm, sẽ khó chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030.

Rõ ràng, muốn khống chế dịch HIV, phải dựa vào cộng đồng. Muốn cộng đồng mạnh, phải có chính sách và tài chính hỗ trợ. Bởi vậy, các Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh (CDC) cần phải phối hợp phòng khám tư, CBO và bảo hiểm để “kéo lại” chuỗi 95–95–95.

nhung-chien-binh-khong-ten-4.jpg
Hệ thống phòng khám tư nhân, doanh nghiệp xã hội hoạt động cầm chừng.
hiv3.jpg

Chia sẻ về Thách thức xây dựng lộ trình bền vững nhằm kiểm soát dịch bệnh AIDS đến năm 2030, Tiến sĩ Đoàn Thị Thùy Linh, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế cho hay, tình hình dịch HIV/AIDS tại Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp về tính chất và quy mô.

Mặc dù Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp can thiệp giảm tác hại tuy nhiên dịch HIV vẫn đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng trong nhóm thanh thiếu niên trẻ, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM). Đây là những quần thể ẩn nên rất khó tiếp cận, khó triển khai các can thiệp cần thiết. Hơn nữa, hành vi nguy cơ của nhóm này rất phức tạp như sử dụng ma túy tổng hợp, sử dụng chemsex, quan hệ tình dục tập thể…

Sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và sự hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư còn thấp, đã và đang là rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS của cả người nhiễm HIV và các nhóm đích nguy cơ cao. Các rào cản về tài chính và địa lý cũng làm hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ của những nhóm đích nguy cơ cao.

"Hiện nay, độ bao phủ các hoạt động can thiệp còn rất xa để tiến tới mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS, làm thế nào để đưa chỉ số điều trị dự phòng PrEP từ 20% lên 70%; liệu pháp kháng virus (ART) phải tăng từ 75% lên 95%; độ bao phủ của các can thiệp hiện là 60%-70% phải lên 95%", Tiến sĩ Linh tâm tư.

visual-selection-6.png

Theo Báo cáo đánh giá lộ trình bền vững kiểm soát dịch bệnh AIDS đến năm 2030 của Bộ Y tế, Việt Nam gặp những thách thức về nguồn lực tài chính phụ thuộc tới gần 50% vào các dự án quốc tế, đặc biệt đối với các chương trình dự phòng mang tính then chốt (điều trị dự phòng trước phơi nhiễm với HIV bằng thuốc kháng HIV (PrEP) đang dựa hoàn toàn vào các dự án viện trợ). Hiện nay Quỹ Bảo hiểm y tế và ngân sách nhà nước đang chưa chi trả cho dịch vụ can thiệp này. Thêm vào đó, các nguồn viện trợ cho phòng, chống HIV/AIDS đang bị cắt giảm viện trợ nhanh và mạnh. Nếu không được trợ giá hoặc bảo hiểm hỗ trợ, chi phí dịch vụ PrEP (bao gồm thuốc, xét nghiệm định kỳ, tư vấn, quản lý hồ sơ…) sẽ trở thành rào cản lớn đối với những người có thu nhập thấp.

Điều vô cùng quan trọng lúc này để Việt Nam có thêm nguồn lực trong phòng, chống HIV/AIDS đó là cần sự hỗ trợ của bảo hiểm y tế và ngân sách Nhà nước, địa phương cho công tác dự phòng.

CBO Huỳnh Minh Phong cho rằng, việc tích hợp PrEP và các hoạt động dự phòng HIV vào chương trình mục tiêu quốc gia, có thể qua bảo hiểm y tế hoặc ngân sách địa phương đặc biệt quan trọng để Việt Nam tự chủ trong công tác phòng, chống HIV/AIDS.

Trong đó, đặc biệt lưu ý đến cơ chế chi cụ thể cho hoạt động cộng đồng, vì chính cộng đồng mới là yếu tố then chốt trong công tác khống chế dịch HIV. Đồng thời, phải có chính sách hỗ trợ duy trì các nhóm CBO, vì "nếu họ ngừng hoạt động, công tác dự phòng và thống kê ca mới sẽ sụp đổ", Phong nói.

hiv6.jpg

Trong nỗ lực duy trì doanh nghiệp xã hội của mình, CBO Danh Tùng mong muốn được thí điểm mô hình xã hội hóa các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm nhanh HIV tại cộng đồng, với mức thu phí hợp lý để từng bước tự chủ tài chính.

"Chúng tôi hiểu rằng hiện nay khung pháp lý cho hình thức này chưa được quy định rõ ràng, nhưng tôi tin rằng việc thử nghiệm có kiểm soát sẽ là hướng đi thực tế để duy trì bền vững công tác phòng, chống HIV. Ngoài ra, các mô hình doanh nghiệp xã hội vẫn còn hạn chế về vốn và năng lực kỹ thuật, rất cần chính sách hỗ trợ đầu tư, quỹ vay ưu đãi, cũng như cơ chế đấu thầu riêng cho doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực HIV/AIDS. Đây sẽ là động lực thúc đẩy khu vực xã hội tham gia sâu hơn, góp phần cùng Nhà nước hướng tới mục tiêu chấm dứt dịch HIV tại Việt Nam vào năm 2030", Tùng chia sẻ.

Nhấn mạnh đến vai trò của nguồn lực tư nhân trong công tác phòng, chống HIV/AIDS, Tiến sĩ Đoàn Thị Thùy Linh cho biết, hiện nay, Bộ Y tế đã có kế hoạch tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua thí điểm triển khai hoạt động tăng cường sự tham gia khu vực tư nhân tại một số tỉnh, thành phố và bước đầu thiết lập dữ liệu về khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS.

Tuy nhiên, hành lang pháp lý toàn diện để mở rộng khu vực tư nhân tại các tỉnh, thành phố còn nhiều khó khăn; năng lực của khu vực tư nhân trong cung cấp dịch vụ chưa đồng đều. Các thông tin về bên cung-bên cầu trong tiếp cận thị trường thuốc và sinh phẩm xét nghiệm HIV cũng chưa đầy đủ và cũng chưa có các cơ chế khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ.

z7211436521134-26e020d22e44f463525488519c4bb8c8-1884.jpg
Cần có sự sát cánh của lực lượng CBO với cán bộ y tế trong tuyên truyền, phổ biến kiến thức tình dục an toàn cũng như tầm soát nguy cơ nhiễm HIV.

Do đó, đại diện Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế cho hay, để tăng tính bền vững về sự tham gia của các doanh nghiệp xã hội cần phải có cơ chế tài chính cho các doanh nghiệp xã hội tham gia cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS từ nguồn ngân sách Nhà nước. và nâng cao năng lực quản lý tài chính và năng lực điều hành của các doanh nghiệp xã hội.

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Quý, Phó Trưởng Khoa Phòng, chống HIV/AIDS (Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đồng Tháp) hy vọng trong năm 2026, với nỗ lực từ Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế sẽ triển khai được các hệ thống phòng chống HIV/AIDS từ từ tuyến tỉnh đến xã hiệu quả hơn. Sự vào cuộc của trạm y tế tuyến xã là tuyến đầu trong công tác dự phòng, do đó phải đầu tư công tác phòng chống AIDS ở xã phù hợp, giữ chân người làm công tác ở tuyến cơ sở.

hiv.jpg
Đóng góp của khu vực tư nhân trong ứng phó HIV. (Nguồn: Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế)

Bên cạnh đó, ông cũng đề xuất phải mở rộng phòng khẳng định phòng HIV, đặc biệt là tại các tuyến y tế xã để đưa khách hàng có kết quả dương tính vào điều trị trong ngày ngay lập tức, cắt giảm nguồn lây.

Việt Nam đã đi một chặng đường dài trong cuộc chiến với HIV/AIDS, từ chỗ bị động đối phó đến chủ động kiểm soát, mở rộng điều trị và dự phòng. Nhưng để giữ vững thành quả ấy, cần một chiến lược bền vững, kết hợp giữa nguồn lực trong nước và sự đồng hành của cộng đồng quốc tế. Với sự hợp lực của công-tư và cộng đồng sẽ tạo "điểm tựa" cho những người yếu thế trước HIV được điều trị dự phòng trước phơi nhiễm, điều trị HIV kịp thời để họ "tái sinh" cuộc đời mới một cách bình thường nhất, khỏe mạnh nhất và được sống trong cộng đồng không còn kỳ thị hay gặp rào cản trong tiếp cận dịch vụ y tế thân thiện.

Có thể bạn quan tâm

Đội ngũ y, bác sĩ thực hiện việc lấy tạng. (Ảnh: SONG NGÂN)

Ca hiến tạng đầu tiên tại Gia Lai: Dấu mốc lịch sử của y tế địa phương

Ngày 15/10, Bệnh viện Hùng Vương Gia Lai đã phối hợp thành công với Trung tâm Điều phối ghép tạng quốc gia và các bệnh viện lớn trong cả nước để thực hiện ca hiến tạng từ người chết não đầu tiên tại tỉnh Gia Lai - một dấu mốc giàu ý nghĩa nhân văn, khẳng định năng lực chuyên môn và sự phát triển của hệ thống y tế địa phương.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà (ở giữa) và đại diện các vụ, cục liên quan trao đổi những nội dung mới của các dự án luật thuộc ngành y tế chuẩn bị trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: Trần Minh)

Sửa đổi, bổ sung hành lang pháp lý để công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân hiệu quả hơn

Nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến sắp xếp bộ máy tổ chức; thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực y tế; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Bộ Y tế đang khẩn trương hoàn thiện để trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tới đây bốn dự án luật liên quan.

Tiến sĩ Tống Trần Hà, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em phát biểu.

Đau mạn tính và loãng xương đe dọa sức khỏe phụ nữ tuổi trung niên

Khoảng 30-40% phụ nữ mãn kinh bị loãng xương, trong khi những cơn đau cơ xương khớp, đau đầu và rối loạn tiết niệu sinh dục thường bị xem là biểu hiện bình thường. Việc chủ quan trước những thay đổi sức khỏe ở giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh có thể khiến phụ nữ bỏ lỡ cơ hội phát hiện sớm và điều trị các bệnh lý liên quan.

Bệnh nhân tổn thương nhiều cơ quan khi mắc sốt rét nặng. (Ảnh: BVCC)

Người đàn ông hôn mê, suy đa cơ quan vì sốt rét sau khi trở về từ châu Phi

Vàng da, vàng mắt kéo dài sau khi trở về từ Congo, người đàn ông 46 tuổi tự uống thuốc nam thay vì nhập viện điều trị. Chỉ đến khi rối loạn ý thức, phải thở máy, bệnh nhân mới được phát hiện mắc sốt rét nặng, tổn thương nhiều cơ quan. Ca bệnh cảnh báo nguy cơ bỏ sót sốt rét ở người trở về từ vùng dịch lưu hành.

(Ảnh minh họa do AI thiết kế)

Mùi hoa sữa gây khó chịu, ai dễ bị ảnh hưởng?

Mùi hoa sữa nồng nặc có thể khiến một số người đau đầu, chóng mặt, buồn nôn hoặc khó chịu ở đường hô hấp. Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, người mắc chứng đau nửa đầu, hen phế quản, bệnh phổi mạn tính và có tiền sử dị ứng phấn hoa là những nhóm cần đặc biệt lưu ý khi hoa sữa vào mùa nở rộ. 

Bác sĩ của Bệnh viện Sản nhi tỉnh khám, điều trị 1 ca mắc bệnh sốt xuất huyết. (Ảnh: THANH DŨNG)

An Giang: Sốt xuất huyết, tay chân miệng tăng cao

Ngày 15/10, Sở Y tế tỉnh An Giang thông tin các ca sốt xuất huyết Dengue và ca tay chân miệng trong toàn tỉnh đều tăng, có 2 trường hợp tử vong. Ngành y tế khuyến cáo, khi có dấu hiệu nghi mắc bệnh, người dân đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời, góp phần hạn chế biến chứng, ngăn ngừa dịch bệnh lây lan trong cộng đồng.

Ê-kíp thầy thuốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội chúc mừng gia đình.

Can thiệp cứu thai trong ca tam thai tự nhiên biến chứng hiếm gặp

Phát hiện hội chứng truyền máu song thai ở tuần 16 trong thai kỳ tam thai tự nhiên, sản phụ 31 tuổi được các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội can thiệp laser và theo dõi đặc biệt. Sau hành trình nhiều biến cố, một em bé chào đời ở tuần 28, được chăm sóc tích cực và xuất viện khỏe mạnh.

Tiến sĩ, bác sĩ Quách Thị Hà Giang thăm khám cho người bệnh mắc bệnh da liễu. (Ảnh minh họa)

Phối hợp đa phương thức trong điều trị cho bệnh nhân da bọng nước tự miễn

Nhóm chuyên môn Bệnh da bọng nước tự miễn của Bệnh viện Da liễu Trung ương vừa điều trị thành công một ca bệnh mắc pemphigus thông thường với biểu hiện bọng nước, vết trợt cả ở da và niêm mạc, diễn biến bệnh dai dẳng... bằng sự phối hợp giữa thuốc sinh học rituximab và tiêm corticoid nội tổn thương niêm mạc miệng.

Cán bộ y tế hướng dẫn người dân trên địa bàn thực hiện các biện pháp phòng, chống sốt xuất huyết. (Ảnh: DUY TUÂN)

Người bệnh mắc sốt xuất huyết không được chủ quan khi vừa “hạ sốt”

Đối với nhiều bệnh việc hạ sốt, hết sốt, người bệnh thường nghĩ cơ thể đang hồi phục và đã qua nguy hiểm. Tuy nhiên, với sốt xuất huyết, cơn sốt vừa hạ có thể lại là thời điểm bệnh bước vào giai đoạn nguy hiểm. Theo ngành y tế Hà Nội, cuối năm là thời điểm bệnh sốt xuất huyết có xu hướng tăng cao.

Hình ảnh siêu âm tim của bệnh nhân phát hiện bất thường. (Ảnh: BVCC)

Khàn tiếng kéo dài, người đàn ông 36 tuổi phát hiện bệnh tim bẩm sinh hiếm gặp

Đi khám vì khàn tiếng kéo dài suốt một tháng, người đàn ông 36 tuổi bất ngờ được phát hiện mắc bệnh tim bẩm sinh gây chèn ép dây thần kinh thanh quản. Đây là trường hợp hiếm gặp khi triệu chứng tưởng chừng chỉ liên quan đến bệnh lý tai mũi họng lại là dấu hiệu cảnh báo bất thường nghiêm trọng ở tim.

Ngành y tế tỉnh Ninh Bình triển khai phun hóa chất phòng, chống dịch sốt xuất huyết trên địa bàn. (Ảnh: YẾN TRINH)

Ninh Bình tăng cường phòng, chống sốt xuất huyết trong cao điểm mùa dịch

Trước nguy cơ dịch sốt xuất huyết tiếp tục diễn biến phức tạp, tỉnh Ninh Bình triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch, tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các ổ dịch; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức chủ động phòng bệnh của người dân, quyết tâm không để dịch lây lan rộng trong cộng đồng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần chia sẻ về ca bệnh. (Ảnh: BVCC)

Bị chê bai, cô lập kéo dài, người trẻ đối mặt nguy cơ rối loạn tâm thần

Một nữ sinh viên mắc chứng ăn vô độ tâm thần, thường xuyên tự gây nôn sau khi ăn, dẫn đến hạ kali máu. Một nữ sinh 15 tuổi khác bị bạn bè cô lập, chế giễu gần 2 năm, sau đó xuất hiện trầm cảm kèm triệu chứng loạn thần. Các trường hợp cho thấy những tổn thương tâm lý kéo dài ở người trẻ cần được nhận diện và can thiệp kịp thời.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học (Ảnh: THƯ THƯ)

Nhóm bệnh nhân hen nặng đối mặt với nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống

Đối với những bệnh nhân hen nặng, mỗi ngày đều có thể là một hành trình đầy thách thức. Những triệu chứng dai dẳng, các đợt kịch phát khó lường và những ảnh hưởng kéo dài đến cuộc sống thường nhật không chỉ tạo gánh nặng cho người bệnh mà còn cho gia đình và hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Bệnh nhi nằm điều trị cúm A. (Ảnh: BVCC)

Mắc cúm A không sốt cao vẫn có thể suy hô hấp nặng

Một bệnh nhân mắc cúm A chỉ sốt nhẹ nhưng suy hô hấp tiến triển nhanh phải đặt nội khí quản cấp cứu. Các bác sĩ cảnh báo, mức độ nguy hiểm của cúm không phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt độ cơ thể, đặc biệt ở người cao tuổi và người có bệnh nền.

Theo Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi, từ ngày 10-12/10, các cơ sở y tế trong tỉnh tiếp nhận 158 bệnh nhân nghi ngờ bị ngộ độc thực phẩm do ăn bánh mì tại điểm bán bánh mì nằm trên đường Duy Tân, phường Cẩm Thành. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Quảng Ngãi yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố

Ngay sau khi xảy ra vụ nghi ngộ độc thực phẩm do ăn bánh mì tại phường Cẩm Thành, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã phát đi công văn khẩn yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố; kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm.