Chấm dứt cơn động kinh kéo dài nhờ phẫu thuật dưới hướng dẫn của điện não đồ vỏ não (ECoG)

Dưới hướng dẫn của điện não đồ vỏ não ECoG (Electrocorticography), bệnh nhân động kinh kháng thuốc kéo dài suốt 19 năm với nhiều cơn co giật xảy ra liên tục trong ngày đã được các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức phẫu thuật thành công, mang lại cuộc sống mới cho người bệnh. 

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ – Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam phụ trách đã sử dụng ECoG để ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ – Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam phụ trách đã sử dụng ECoG để ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não.

Bước ngoặt trong phẫu thuật động kinh

Thạc sĩ, bác sĩ Tạ Hồng Nhung, Khoa Nội-Hồi sức Thần kinh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: Người bệnh bị động kinh từ khi hơn 1 tuổi, biểu hiện bằng các cơn co giật nửa người hoặc cơn tăng động, sợ hãi và ngày càng trở nên kháng thuốc. Người bệnh đã đi khám và điều trị nhiều nơi với nhiều loại thuốc khác nhau nhưng cơn động kinh không có dấu hiệu suy giảm mà còn có xu hướng tăng.

Cơn động kinh xuất hiện gần như hằng ngày từ vài cơn cho đến vài chục cơn một ngày, thậm chí có nhiều ngày người bệnh không thể tỉnh dậy để uống thuốc. Trước phẫu thuật, người bệnh đang được điều trị 3 loại thuốc chống động kinh: Depakin, Tegretol và Gardenal với liều tối đa nhưng vẫn xuất hiện 4-5 cơn mỗi ngày.

Người bệnh đã được ghi điện não đồ video ngoài da đầu kéo dài và chụp cộng hưởng từ sọ não xác định cơn động kinh do loạn sản vỏ não thùy trán gây nên.

"Đây là một dạng dị tật trong quá trình phát triển vỏ não, một nguyên nhân phổ biến gây động kinh kháng thuốc ở trẻ em và có chỉ định phẫu thuật cắt bỏ tổn thương. Tuy nhiên, ở các trường hợp phẫu thuật loạn sản vỏ não, tỷ lệ người bệnh vẫn còn cơn sau mổ khá cao, khoảng 40-50% do không cắt hết được vùng sinh động kinh bằng mắt thường", bác sĩ Nhung cho biết.

Ngày 2/4, người bệnh được phẫu thuật dưới hướng dẫn của kỹ thuật ECoG. Trên hình ảnh cộng hưởng từ sọ não, tổn thương được xác định khá khu trú, nếu chỉ dựa vào dữ liệu này, phạm vi cắt bỏ sẽ rất hẹp.

Tuy nhiên, trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ – Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam phụ trách đã sử dụng ECoG để ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não. Kết quả cho thấy vùng sinh động kinh rộng hơn so với hình ảnh cộng hưởng từ, vì vậy phẫu thuật viên đã mở rộng diện cắt thêm khoảng 2-3cm so với ranh giới tổn thương trên phim.

Trong quá trình phẫu thuật, các điện cực được đặt trực tiếp lên vỏ não và cả diện cắt tổn thương để liên tục theo dõi hoạt động điện. Dựa vào tín hiệu ghi nhận được, ê-kíp đã xác định chính xác thời điểm dừng cắt bỏ, bảo đảm loại bỏ tối đa vùng sinh động kinh nhưng vẫn bảo tồn chức năng thần kinh quan trọng.

z7799163505111-31a7132ac34c18a13fb0edce11acdf16.jpg
Bệnh nhân được phẫu thuật động kinh bằng phương pháp mới.

Các bác sĩ nhận định, nếu chỉ dựa vào các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như trước đây, phạm vi phẫu thuật có thể không đủ rộng, dẫn đến nguy cơ tái phát cao và khó đạt hiệu quả điều trị tối ưu. Việc ứng dụng ECoG đã giúp mở rộng diện cắt một cách chính xác, nâng cao khả năng kiểm soát cơn sau mổ.

Sau phẫu thuật tới nay, người bệnh không còn cơn dù chưa dùng lại thuốc chống động kinh. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong phẫu thuật động kinh, mở ra hướng tiếp cận hiện đại, cá thể hóa điều trị cho người bệnh động kinh kháng thuốc.

Hiệu quả trong ứng dụng ECoG trong phẫu thuật động kinh

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ cho biết: Ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não bằng kỹ thuật ECoG (Electrocorticography) đang trở thành công cụ quan trọng giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị động kinh, đặc biệt ở những trường hợp động kinh kháng thuốc hoặc khó xác định vùng tổn thương bằng các phương pháp thông thường.

ECoG là phương pháp ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não thông qua các điện cực đặt ngay trên nhu mô não trong quá trình phẫu thuật. Khác với điện não đồ thường quy (EEG) ghi tín hiệu qua da đầu nên tín hiệu bị suy giảm, ECoG ghi trực tiếp giúp thu nhận tín hiệu với độ phân giải không gian và thời gian cao hơn, từ đó cung cấp thông tin chính xác hơn về hoạt động điện của não.

Trong thực hành lâm sàng, ECoG có 3 vai trò chính gồm: Chẩn đoán vùng sinh động kinh, hướng dẫn phẫu thuật và đánh giá sau khi cắt bỏ tổn thương. Nhờ khả năng ghi nhận trực tiếp các tín hiệu bất thường, ECoG giúp xác định chính xác vùng phát sinh cơn động kinh, đồng thời phân biệt với vùng lan truyền hoặc các biểu hiện thứ phát. Kỹ thuật này đặc biệt hữu ích trong các trường hợp hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) không phát hiện tổn thương, tổn thương lan tỏa hoặc người bệnh bị động kinh kháng thuốc.

ECoG cũng cho phép phát hiện các dạng sóng đặc trưng như sóng nhọn, sóng cao nhọn, các phức hợp nhọn-cao nhọn và đặc biệt là các dao động tần số cao (High-frequency oscillations – HFOs). Các HFOs có tần số từ 80-500Hz được đánh giá là dấu hiệu nhạy, liên quan chặt chẽ với vùng sinh động kinh và có giá trị cao trong định vị vùng cần can thiệp. Ngoài ra, khi kết hợp kích thích điện, ECoG còn hỗ trợ lập bản đồ chức năng vỏ não, xác định các vùng vận động, ngôn ngữ và cảm giác, giúp phẫu thuật viên tránh cắt vào các vùng chức năng quan trọng.

​Trong quá trình phẫu thuật, ECoG được sử dụng để định vị ranh giới cắt bỏ tổn thương. Dựa vào sự xuất hiện của các sóng bất thường, phẫu thuật viên có thể mở rộng hoặc thu hẹp diện cắt nhằm bảo đảm cắt bỏ đầy đủ vùng sinh động kinh nhưng vẫn bảo tồn tối đa chức năng thần kinh.

Sau khi cắt bỏ, ECoG tiếp tục được sử dụng để kiểm tra lại. Nếu vẫn còn các sóng nhọn bất thường, phẫu thuật viên có thể cân nhắc cắt thêm; ngược lại, nếu tín hiệu bất thường đã hết, tiên lượng kiểm soát cơn động kinh sẽ tốt hơn.

​Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Hệ, kỹ thuật này được ứng dụng hiệu quả trong nhiều loại phẫu thuật động kinh như cắt thùy thái dương, cắt vùng tổn thương, cắt vùng vỏ não bệnh hoặc phẫu thuật cắt nửa bán cầu. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc cắt bỏ hoàn toàn vùng có bất thường trên ECoG giúp tăng tỷ lệ hết cơn sau phẫu thuật. Đồng thời, ECoG giúp cá thể hóa chiến lược phẫu thuật, không phụ thuộc hoàn toàn vào hình ảnh học, cho phép điều chỉnh phạm vi can thiệp phù hợp với từng người bệnh.

Bên cạnh đó, ECoG còn đóng vai trò hỗ trợ các kỹ thuật điều trị hiện đại như Stereo-EEG, phẫu thuật dẫn hướng theo SEEG hoặc đốt laser nhiệt định vị (LITT), góp phần nâng cao hiệu quả điều trị động kinh phức tạp.​

Việc ứng dụng ECoG trong phẫu thuật động kinh giúp nâng cao độ chính xác, tối ưu hóa kết quả điều trị và giảm nguy cơ thiếu hụt thần kinh sau phẫu thuật, mở ra cơ hội kiểm soát cơn tốt hơn cho nhiều người bệnh động kinh kháng thuốc.

Có thể bạn quan tâm

Thăm khám tại Bệnh viện da liễu thành phố Huế. (Ảnh: Bệnh viện Da liễu)

Huế: Số ca viêm da do kiến ba khoang gấp hơn 3,5 lần

Trong hơn một tháng, thành phố Huế ghi nhận 118 trường hợp viêm da tiếp xúc kích ứng do kiến ba khoang đến khám và điều trị, gấp hơn 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2025. Ngành y tế khuyến cáo người dân chủ động phòng tránh, không tự ý mua thuốc khi chưa xác định rõ nguyên nhân tổn thương.

Các container chứa những hợp phần thiết bị quan trọng đầu tiên của “siêu máy” xạ trị proton MEVION S250-FIT được vận chuyển từ California, Mỹ đã được nhập cảnh về Việt Nam.

Việt Nam tiếp nhận những thiết bị đầu tiên của hệ thống xạ trị proton gần 2.000 tỷ đồng

Những hợp phần đầu tiên của hệ thống xạ trị proton MEVION S250-FIT trị giá gần 2.000 tỷ đồng từ Mỹ đã được vận chuyển về Việt Nam, chuẩn bị lắp đặt tại Bệnh viện đa khoa và Ung bướu Tâm Anh Phú Mỹ Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh. Dự kiến, hệ thống sẽ được đưa vào sử dụng khi bệnh viện đi vào hoạt động năm 2028.

Các đại biểu ấn nút khai trương hệ thống cộng hưởng từ siêu từ lực MRI 5 Tesla. (Ảnh: MDI)

Bệnh viện đầu tiên đưa vào sử dụng hệ thống cộng hưởng từ siêu từ lực MRI 5 Tesla

Việc chính thức đưa hệ thống MRI 5 Tesla vào hoạt động khẳng định cam kết mạnh mẽ của Trường đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong việc không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao vì sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững của y tế nước nhà.

Sáng 27/10, tổ chức Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá”

Sáng 27/10, tổ chức Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá”

Sự xuất hiện của các sản phẩm thuốc lá mới cùng hình thức quảng bá, tiếp thị đa dạng đang đặt ra nhiều thách thức trong công tác bảo vệ sức khỏe, nhất là với thanh thiếu niên. Nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, tổ chức xã hội, Báo Nhân Dân tổ chức Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá”.

Các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương điều trị cho người bệnh nhiễm cúm A nặng. (Ảnh: Thanh Sơn)

Không chủ quan với bệnh cúm A

Bệnh cúm A xảy ra quanh năm nhưng thường tăng cao vào thời điểm giao mùa, nhất là khi có thời tiết nóng lạnh xen kẽ thất thường. Phần lớn người mắc cúm có biểu hiện nhẹ và tự hồi phục. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể diễn biến nặng, gây biến chứng ở nhóm người cao tuổi, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai...

Nhiều nghiên cứu khoa học được báo cáo, chia sẻ tại hội nghị. (Ảnh: Minh Hoàng)

Đổi mới sáng tạo là một phần không thể thiếu trong y học

Trong quá trình phát triển, Bệnh viện Bưu điện không ngừng mở rộng và nâng cao năng lực chuyên môn, nhất là trong các lĩnh vực mũi nhọn như: Ngoại khoa, Hỗ trợ sinh sản, Chấn thương chỉnh hình, Phẫu thuật thần kinh-cột sống, Can thiệp tim mạch, Tế bào gốc....

Hiện nay, sự phát triển của các hệ thống nội soi độ phân giải cao, công nghệ nhuộm màu ảo, phóng đại hình ảnh và các chế độ ánh sáng đặc biệt đã giúp bác sĩ nhận diện rõ hơn những bất thường của niêm mạc đường tiêu hóa. (Ảnh: Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật)

Phát triển công nghệ Việt để phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa

Trí tuệ nhân tạo đang mở ra cơ hội phát hiện sớm những tổn thương ung thư đường tiêu hóa vốn khó nhận diện. Các nhà khoa học Việt Nam đã phát triển thành công thuật toán hỗ trợ phát hiện đồng thời nhiều loại tổn thương qua nội soi, được cấp bằng độc quyền sáng chế và bước đầu ứng dụng tại các cơ sở y tế.

Lãnh đạo thành phố Huế tặng hoa chúc mừng hội thảo. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Kết nối chuyên gia, phát triển nội soi can thiệp chuyên sâu khu vực Đông Nam Á

Hội thảo Nội soi quốc tế Đông Nam Á 2026 tổ chức tại Bệnh viện Trung ương Huế là diễn đàn kết nối các chuyên gia, cập nhật tiến bộ kỹ thuật và thúc đẩy hợp tác đào tạo, chuyển giao công nghệ giữa các trung tâm nội soi trong khu vực, góp phần nâng cao năng lực nội soi can thiệp, mở rộng cơ hội điều trị hiệu quả cho người bệnh.

Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng (bên phải) chia sẻ về phẫu thuật ít xâm lấn. (Ảnh: T.H)

Hành trình theo đuổi những cuộc phẫu thuật ít tổn thương

Gắn bó nhiều năm với ngoại khoa, Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Kiều Đình Hùng, Phó Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam, giảng viên cao cấp Bộ môn Ngoại, Trường đại học Y Hà Nội luôn trăn trở làm thế nào để phẫu thuật ít gây tổn thương nhất cho người bệnh, thậm chí có thể tránh mổ khi còn giải pháp điều trị phù hợp.