Bền vững giá trị văn hóa Khmer Nam Bộ

Để di sản được giữ gìn, tỏa sáng

Theo thời gian, trong xu thế hội nhập, di sản văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer có sự mai một, biến đổi, giao thoa; rất cần sự chung sức đồng lòng của Nhà nước và người dân để tiếp tục được giữ gìn, tỏa sáng.
Ðội múa Cha dam biểu diễn tại lễ hội Ok Om Bok năm 2022 tại tỉnh Trà Vinh. (Ảnh MINH KHỞI)
Ðội múa Cha dam biểu diễn tại lễ hội Ok Om Bok năm 2022 tại tỉnh Trà Vinh. (Ảnh MINH KHỞI)

Văn hóa truyền thống đồng bào Khmer không tránh khỏi sự thay đổi theo xu hướng chung của xã hội, chịu nhiều ảnh hưởng bởi tác động của cuộc sống hiện đại và hội nhập. Trừ các dịp lễ, Tết, lâu nay phần lớn đồng bào Khmer sử dụng ngôn ngữ, trang phục, ẩm thực... như người Kinh; một bộ phận, nhất là giới trẻ rất ít khi dùng trang phục truyền thống, ngôn ngữ của dân tộc mình. Các di sản vật thể và phi vật thể có sự mai một, gặp không ít khó khăn trong việc duy trì, bảo tồn và phát huy.

Thượng tọa Lý Hùng, Ủy viên Hội đồng Trị sự, Phó Trưởng Ban Pháp chế Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trụ trì chùa Viễn Quang (thành phố Cần Thơ) chỉ ra một số hạn chế như: Việc dạy và học tiếng Khmer, chương trình Pali (Thế học), chương trình Vini (Phật học) còn nhiều bất cập, văn bằng chưa có giá trị sử dụng rộng rãi. Văn học, nghệ thuật dân tộc Khmer ít được khai thác, phổ biến.

Hưởng thụ văn hóa của đồng bào ngày càng được nâng cao, nhưng các chương trình phát thanh - truyền hình, báo chí tiếng Khmer chưa đáp ứng được bởi nội dung còn nghèo nàn, thẩm mỹ dân tộc chưa cao nên một bộ phận sư sãi, cán bộ, trí thức, đồng bào tự lắp đặt chảo parabol xem đài truyền hình của Campuchia. Các chùa được công nhận di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh đã và đang xuống cấp nhưng việc tôn tạo, trùng tu còn rất ít…

Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng Sơn Thanh Liêm chia sẻ: Sóc Trăng là tỉnh nghèo, ngân sách đầu tư của Nhà nước cho bảo tồn di sản văn hóa còn thấp, đặc biệt là văn hóa dân tộc Khmer. Ðội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác văn hóa ở vùng có đông đồng bào Khmer còn thiếu và yếu, nhất là cán bộ trẻ, có năng lực là người dân tộc Khmer; các nghệ nhân có tay nghề cao ngày càng giảm dần. Nhiều di sản văn hóa truyền thống chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản, khoa học.

Các loại hình như kiến trúc, trang phục dân tộc, món ăn truyền thống, các làn điệu dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian, lễ hội... đang đứng trước nguy cơ biến mất theo xu hướng hiện đại hóa và tác động mặt trái của cơ chế thị trường. Hệ thống thiết chế và cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa ở một số nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng còn thấp. Việc đưa các hoạt động văn hóa, văn nghệ đến phục vụ đồng bào Khmer đôi lúc chưa kịp thời và đáp ứng yêu cầu hiện nay.

“Những bất cập trên xuất phát từ nguyên nhân cơ bản, đó là nhận thức của các cấp, ngành về vị trí, vai trò của bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Khmer nhiều lúc, nhiều nơi chưa thật đầy đủ, chưa thống nhất cao. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Khmer đã được thể chế hóa, nhưng từ văn bản đến hiện thực vẫn còn nhiều khoảng cách do thiếu sự tương thích giữa bảo vệ, giữ gìn với phát triển” - đồng chí Sơn Thanh Liêm nhận định.

Dự kiến, thời gian tới, tỉnh Sóc Trăng sẽ thực hiện nhiều giải pháp, như: Ðẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử-văn hóa của đồng bào Khmer; trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với các loại hình tiêu biểu, đồng thời có kế hoạch bảo tồn những di sản văn hóa có nguy cơ mai một. Tiếp tục triển khai các dự án, đề án, chương trình được đầu tư gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; khôi phục lại một số loại hình văn hóa, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ bị mai một như: Nghệ thuật sân khấu Rô Băm, trang phục truyền thống, các trò chơi dân gian, các loại hình nghệ thuật...

Trung ương và địa phương cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ hợp lý cho các nghệ nhân, cá nhân và gia đình có công giữ gìn di sản văn hóa dân tộc Khmer; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ, nhất là cán bộ người dân tộc Khmer; thu hút cán bộ có trình độ, năng lực về công tác tại vùng có đông đồng bào Khmer sinh sống; tăng cường đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, vui chơi giải trí, tụ điểm sinh hoạt văn hóa chùa Khmer; đầu tư sách, báo, phủ sóng phát thanh, truyền hình bằng tiếng, chữ Khmer; tăng cường quản lý, thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội lớn, thông qua hoạt động tuyên truyền bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan...

Chiếm 31,53% dân số tỉnh Trà Vinh, đời sống kinh tế của đồng bào Khmer dựa vào sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nước, rau màu; ngoài ra còn đánh bắt thủy sản và làm một số nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Nhờ thực hiện hiệu quả các chính sách đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo cùng với sự nỗ lực vươn lên của người dân, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào Khmer giảm rõ rệt, từ hơn 50% năm 1992 xuống còn 0,88% năm 2021.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh Lê Văn Hẳn cho biết, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn 1 (2022-2025), tỉnh đã có kế hoạch đầu tư các dự án nhằm ổn định dân cư; đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch... với tổng nguồn vốn hơn 271 tỷ đồng.

Trong số 13 làng nghề được tỉnh Trà Vinh công nhận, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp các xã Ðại An, Hàm Giang; dệt chiếu thảm xã Hàm Tân, huyện Trà Cú; đan đát, thủ công mỹ nghệ xã Lương Hòa, huyện Châu Thành đã giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho hàng nghìn hộ đồng bào Khmer. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh Lê Văn Ðông cho biết, tỉnh đã tiến hành khảo sát thực trạng và đề ra nhiều giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững làng nghề trong thời gian tới nhằm giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động nông thôn, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nghệ nhân Diệp Thị Trang, chủ cơ sở thuộc làng nghề tiểu thủ công nghiệp xã Ðại An, huyện Trà Cú cho biết: Nghề đan đát ở Ðại An được người dân gìn giữ, phát triển gần 100 năm nay. Hiện cơ sở đan đát của bà Trang giải quyết việc làm cho khoảng 100 lao động nhàn rỗi với thu nhập từ 200.000-300.000 đồng/ngày; giúp cải thiện sinh kế cho hàng chục hộ đồng bào Khmer tại địa phương. Làng nghề dệt chiếu Cà Hom-Bến Bạ xã Hàm Tân 20 năm về trước là thời kỳ hoàng kim, thu hút hơn 200 hộ đồng bào Khmer làm nghề, giải quyết việc làm hơn 500 lao động.

Hiện nay, làng nghề đang mai một, chỉ còn sáu hộ có vốn đầu tư khung dệt máy, giải quyết việc làm cho 100 lao động; còn đa số hộ dệt chiếu thủ công treo khung hoặc chỉ hoạt động cầm chừng. Tới đây, Ủy ban nhân dân huyện Trà Cú sẽ phối hợp các ngành thực hiện chính sách hỗ trợ vốn, đào tạo nghề, nghiên cứu nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm nhằm ổn định đời sống người dân và gìn giữ nghề truyền thống.

Cùng với giải quyết khó khăn trong đời sống, mưu sinh cho đồng bào, tỉnh Trà Vinh đã có nhiều nỗ lực phục dựng, bảo tồn di sản phi vật thể quý giá của dân tộc Khmer. Và một điều quan trọng để làm nên “sự nghiệp” chung là ở tài năng và tâm huyết của mỗi cá nhân đau đáu với văn hóa dân tộc. Tự hào bởi nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây của người Khmer Trà Vinh được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nghệ nhân Thạch Mâu (huyện Trà Cú) cho biết, lời ca Chầm Riêng Chà Pây có nội dung rất phong phú, là những bài học mang tính giáo dục con người, được đông đảo người dân yêu thích.

Nhưng khoảng 20 năm trở lại đây, lớp trẻ ít ai chịu học Chầm Riêng Chà Pây. Với mong muốn không để loại hình nghệ thuật này mai một theo thời gian, dù tuổi đời đã cao, nghệ nhân Thạch Mâu vẫn rất nhiệt tình truyền dạy nghề cho lớp trẻ. Ông tâm sự: “Người già chúng tôi cần phải giúp con cháu tiếp tục nuôi dưỡng tình yêu với Chầm Riêng Chà Pây, không thể để mất một di sản quý giá của dân tộc, của quốc gia”.

Ðược thành lập từ tháng 4/1963, Ðoàn nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Trà Vinh) chọn loại hình sân khấu Dù Kê được đông đảo đồng bào Khmer yêu thích làm nền tảng cho hoạt động nghệ thuật. Gần 60 năm qua, đoàn nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến rộng rãi các loại hình nghệ thuật sân khấu Dù Kê, kịch múa và ca múa nhạc dựa trên chất liệu cổ điển, dân gian và đương đại, từng bước hòa nhập xu thế phát triển của cả nước nhưng vẫn giữ được phong cách, sắc thái nghệ thuật của đồng bào Khmer Nam Bộ. Nghệ sĩ Ưu tú Thạch Thị Si Sa Vết tâm sự: “Tại các tỉnh, thành phố Tây Nam Bộ và nước bạn Campuchia, đơn vị đã có hàng trăm chương trình biểu diễn được đông đảo khán giả trong và ngoài nước đón nhận, khen ngợi. Tôi rất vinh dự, tự hào khi trưởng thành và trở thành nghệ sĩ chuyên nghiệp từ chiếc nôi nghệ thuật này”.

Ý thức, nhiệt huyết của mỗi cá nhân chính là ngọn lửa lan tỏa, thắp sáng tình yêu, sự chung tay góp sức của cả cộng đồng. Như lời phát biểu tâm huyết của Bí thư Trung ương Ðảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ðỗ Văn Chiến tại Ngày hội Văn hóa, thể thao và du lịch đồng bào Khmer Nam Bộ lần thứ 8 vừa qua: “Giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc nói chung, dân tộc Khmer nói riêng phải xuất phát từ yếu tố tự thân, tự mình giữ cho mình. Vì vậy tôi mong muốn đồng bào dân tộc Khmer cùng nhau thực hiện tốt phương châm: Người đi trước truyền lại cho người đi sau; ông bà, cha mẹ truyền dạy cho con cháu; cộng đồng học hỏi lẫn nhau, với nhiều cách làm sáng tạo, bền bỉ thì mới gìn giữ và phát huy được nét văn hóa đặc sắc, độc đáo của dân tộc mình”.

Có thể bạn quan tâm

Đại diện Ban tổ chức, Ban Giám khảo chụp ảnh kỷ niệm cùng các thí sinh tham gia cuộc thi. (Ảnh: Khánh Lan)

Hơn 700 thiếu nhi Việt Nam và quốc tế tham gia Cuộc thi vẽ tranh “Em yêu Hà Nội - Thành phố vì hòa bình”

Cuộc thi vẽ tranh quốc tế góp phần quảng bá hình ảnh Hà Nội - Thành phố vì hòa bình, Thành phố sáng tạo, “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, đồng thời giáo dục thiếu nhi về tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu hòa bình và tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa thiếu nhi Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh) - nơi diễn ra nghi thức chính của Lễ hội Katê hằng năm. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Sẵn sàng vui đón Lễ hội Katê 2026

Những ngày đầu tháng 10, không khí đón Lễ hội Katê đã rộn ràng khắp các làng Chăm ở phía nam tỉnh Khánh Hòa. Từ những con đường làng rực rỡ sắc màu đến các đền, tháp cổ kính, mọi công việc chuẩn bị đang khẩn trương hoàn tất. 

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Ba họa sĩ, ba phong cách nghệ thuật, nhưng có một điểm chung là tình yêu và những miền ký ức gắn với Hà Nội. Triển lãm chung mang tên “Mơ về nơi bắt đầu” tại Trung tâm Nghệ thuật Area 75 – Art & Auction là nơi các họa sĩ Bùi Tuấn Thanh, Đỗ Doãn Châu và Doãn Hoàng Lâm kể chuyện về con người và thành phố qua hội họa.

Hàng chục nghìn người dân Lai Châu tham dự đêm nhạc Viettel Y-Fest vào tối 3/10 tại Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu.

Một đêm nhạc, nhiều điểm chạm ở Lai Châu

Chương trình Viettel Y-Fest 2026 lần đầu tiên được tổ chức tại Lai Châu không chỉ mang đến một đêm nhạc sôi động, mà còn mở ra không gian kết nối văn hóa, cảnh quan, ẩm thực và sản phẩm địa phương, góp phần lan tỏa hình ảnh Lai Châu đến với nhiều du khách.

Nghệ sĩ Nhân dân Đồng Văn Minh biểu diễn đàn tre lắc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh nhân vật cung cấp)

Không gian âm nhạc dân tộc

Theo đề án được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt thì đến năm 2031 Dàn nhạc Dân tộc quốc gia Việt Nam được định hướng trở thành một “không gian nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam”, phục vụ các hoạt động văn hóa trong nước và quốc tế.

Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động của Lễ hội văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, diễn ra từ ngày 1-4/10 với chủ đề “Hội tụ di sản-Kiến tạo tương lai”. (Ảnh: MINH DUY)

[Ảnh] Gặp gỡ văn hóa, giao lưu nhân dân và kết nối quốc tế tại "Sắc màu năm châu"

Chiều 3/10, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm trở thành không gian giao lưu văn hóa sôi động khi hàng nghìn nghệ sĩ, nghệ nhân và người dân cùng tham gia Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”. Những trang phục truyền thống, tiết mục nghệ thuật và vũ điệu sôi nổi đến từ nhiều quốc gia đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng giữa lòng Thủ đô.

Một buổi dạy đàn Chapi của nghệ nhân xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Học sinh Raglai nối dài tiếng đàn Chapi giữa núi rừng

Từ năm học 2026-2027, đàn Chapi được đưa vào giảng dạy tại Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà, xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa. Qua từng nhịp đàn còn vụng về của học trò, âm thanh mộc mạc của núi rừng đang được đánh thức, góp phần gìn giữ và trao truyền di sản văn hóa của đồng bào Raglai cho thế hệ mai sau.

Tổ đình Thiền Tôn đang lưu giữ nhiều di sản tư liệu Hán Nôm cổ. (Ảnh: PHÙNG QUỐC ANH)

Đánh thức tư liệu cổ từ di sản Phật giáo Huế

Giữa sương sớm núi Thiên Thai, tiếng chuông Tổ đình Thiền Tôn ngân lên từ không gian đã hơn ba thế kỷ. Trong ngôi cổ tự gắn với dòng thiền Liễu Quán, những mộc bản, kinh sách và tư liệu Hán Nôm vẫn âm thầm lưu giữ dấu tích Phật giáo Huế, vừa chứa đựng những lớp ký ức về lịch sử, văn hóa và văn hiến vùng đất Cố đô.

Đội biểu diễn Taekwondo quốc gia trực thuộc Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc. (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp)

Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026

Hướng tới kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc (1992-2027) và Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đồng chủ trì tổ chức chương trình “Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026” từ ngày 3-4/10.

Các đại biểu và diễn giả tại Hội thảo. (Ảnh: Ban tổ chức)

Đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành tài sản sở hữu trí tuệ

Hội thảo “Culture Tech 2026: From Culture to IP” trong khuôn khổ iTECH EXPO 2026 đã đặt ra những gợi mở về việc đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành những tài sản sở hữu trí tuệ mang giá trị kinh tế cao, theo định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, chuyển văn hóa thành nguồn lực, đóng góp vào phát triển kinh tế.

Rước kiệu vua Lê Thái Tổ và Trung Túc vương Lê Lai về sân điện Lam Kinh. (Ảnh: MAI LUÂN)

Khai hội Lam Kinh 2026

Sáng 2/10, tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh ở xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa long trọng tổ chức kỷ niệm 608 năm Khởi nghĩa Lam Sơn, 598 năm vua Lê Thái Tổ đăng quang, 593 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc Lê Lợi và khai hội Lam Kinh năm 2026.