Lăng kính An sinh

Bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi

Bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi là vấn đề được các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Một trong những giải pháp chủ yếu cho vấn đề này là mở rộng bảo hiểm xã hội, để những người hết tuổi lao động được thụ hưởng chế độ hưu trí.

Phường Nguyễn Trãi (quận Hà Đông) tổ chức chi trả tiền hỗ trợ người dân theo Nghị quyết 68/NQ-CP. Ảnh: HOÀNG HIẾU
Phường Nguyễn Trãi (quận Hà Đông) tổ chức chi trả tiền hỗ trợ người dân theo Nghị quyết 68/NQ-CP. Ảnh: HOÀNG HIẾU

Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hiện nay trên thế giới đã có 77,5% số người trên tuổi nghỉ hưu nhận được một số hình thức hưu trí tuổi già.

Tuy nhiên, cũng theo ILO, tỷ lệ này ở các quốc gia, khu vực có sự chênh lệch lớn. Chẳng hạn, tại Việt Nam, theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, cuối năm 2020, cả nước mới có hơn 4,49 triệu người, tương đương với 35% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp xã hội hằng tháng dành cho người hơn 80 tuổi.

Ðể từng bước giải quyết vấn đề nêu trên và từng bước hiện thực hóa mục tiêu đã được Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, đó là phấn đấu số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội đạt khoảng 55% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030, nhiều giải pháp đã được tính đến trong quá trình xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi).

Trong đó, một giải pháp căn cơ được tính đến là mở rộng diện bao phủ thông qua mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện; giảm điều kiện thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí; điều chỉnh quy định điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần để hạn chế số người rời khỏi "lưới an sinh"; giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (trợ cấp xã hội hằng tháng dành cho người cao tuổi) phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ.

Theo đánh giá chung, các biện pháp nêu trên là khá tổng thể, khả thi, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm tốt hơn về an sinh xã hội cho người lao động khi về già. Mặc dù vậy, vẫn có một số ý kiến cho rằng, những giải pháp nêu trên không phải là căn bản, mà quan trọng nhất là cần… giảm tuổi nghỉ hưu, bởi thực tế là nhiều người lao động chỉ có thể làm việc đến khoảng 45 đến 50 tuổi !

Trước hết, chúng ta cần xác định rõ rằng, tuổi nghỉ hưu không phải nội dung nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo hiểm xã hội mà là quy định tại Bộ luật Lao động. Trong lần sửa đổi Bộ luật Lao động gần đây nhất (năm 2019), đây là vấn đề đã được Quốc hội xem xét, thảo luận rất kỹ. Phương án điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình đã được quyết định nhằm xây dựng hệ thống bảo hiểm hưu trí bền vững, giải quyết thách thức về nhân khẩu học do dân số già hóa nhanh, bảo đảm bình đẳng giới. Ðây cũng không phải là lựa chọn riêng của Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng đã và đang phải điều chỉnh tăng tuổi hưu; có nước quy định độ tuổi nghỉ hưu lên tới 67 tuổi nhằm giải quyết những vấn đề này.

Dù một bộ phận người lao động mong muốn nghỉ hưu sớm, nhưng chúng ta cũng không thể không lưu ý một thực tế đã được Tổng cục Thống kê công bố là có khoảng 35% người cao tuổi (từ 60 trở lên) ở nước ta vẫn đang làm việc. Trong số này đa phần là những người không có lương hưu và trợ cấp xã hội. Ðiều đó không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của lương hưu trong bảo đảm an sinh đối với người cao tuổi, mà còn cho thấy đâu mới là giải pháp đúng cho vấn đề này.

Có thể bạn quan tâm

Các tổ bầu cử trên địa bàn phường Hoàn Kiếm hoàn tất việc trang trí khu vực bỏ phiếu, bảo đảm trang nghiêm, đúng quy định. (Ảnh ĐẠI LONG)

Ngành bảo hiểm xã hội nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân trước ngày bầu cử

Các đơn vị trực thuộc, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số (Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Chỉ số hài lòng với phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 tăng hơn 2%

Chỉ số hài lòng chung của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 đạt 89,50%, tăng 2,03% so với năm 2024. Con số này cho thấy sự cải thiện về chất lượng phục vụ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như phản ánh hiệu quả của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)

Sổ bảo hiểm xã hội điện tử đủ thông tin như bản giấy, tích hợp tài khoản VNelD mức độ 2

Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Sổ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID, chứa thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.

Sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam tại Khu công nghiệp Phố Nối B, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh minh họa ÐĂNG DUY)

Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính về bảo hiểm xã hội trong năm 2026

Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Chụp X-quang tại Bệnh viện Bạch Mai.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phản hồi về việc giám định và thanh toán dịch vụ kỹ thuật hình ảnh

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa phù hợp bản chất của hướng dẫn y tế chuyên môn. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian, quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.