Công nghệ “dịch chuyển” xuống ruộng đồng
Tổng Giám đốc Công ty Vina T&T Group Nguyễn Đình Tùng cho biết: Trong quá trình chuyển đổi số nông nghiệp, thách thức không nằm ở công nghệ mà ở điều kiện tiếp cận và khả năng triển khai ở cấp nông hộ.
Do đặc thù sản xuất nhỏ lẻ và chi phí đầu tư lớn, việc ứng dụng các giải pháp như AI hay hệ thống dữ liệu đồng bộ cần có cách tiếp cận phù hợp. Vina T&T Group lựa chọn cách tiếp cận theo mô hình “hạt nhân”, đứng ra đầu tư toàn bộ nền tảng công nghệ lõi, sau đó chuyển giao xuống hợp tác xã và nông dân dưới dạng các ứng dụng đơn giản, dễ sử dụng trên smartphone. Quá trình này đi kèm với phương thức “cầm tay chỉ việc” thông qua đội ngũ kỹ thuật trực tiếp hướng dẫn nông dân ghi chép, số hóa dữ liệu sản xuất.
Đây là một trong những bước quan trọng giúp Công ty triển khai truy xuất nguồn gốc thông minh (Smart Traceability) với mỗi thùng hàng qua mã định danh. Chỉ cần quét QR, khách hàng quốc tế sẽ thấy toàn bộ thông tin từ mã số vùng trồng, ngày bón phân đến nhiệt độ trong container suốt hành trình trên biển, hiện thực hóa giấc mơ “Green Flow” - dòng chảy nông sản sạch ra toàn cầu.
Theo Trưởng phòng Phát triển nông nghiệp bền vững Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) Ngô Quốc Vũ, doanh nghiệp đã liên kết với các nông hộ trồng cà-phê, đầu tư hệ thống cảm biến theo dõi độ ẩm đất, nhiệt độ và dinh dưỡng ngay tại vườn. Dữ liệu thu thập được giúp người trồng cà-phê điều chỉnh tưới nước và chăm sóc cây trồng chính xác hơn, giảm chi phí đầu vào và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ông Trần Tuấn Đàn, phường Ea Kao, tỉnh Đắk Lắk - một nông hộ tham gia liên kết cho biết: “Thay vì phải hiểu toàn bộ hệ thống công nghệ phức tạp, nông dân chỉ cần tiếp cận các chỉ dẫn cụ thể dựa trên phần mềm cài đặt trên điện thoại thông minh và dụng cụ cảm biến đặt tại vườn nên rất thuận lợi và yên tâm”. Từ việc số hóa vùng nguyên liệu, các lô cà-phê xuất khẩu của Công ty đều được gắn mã truy xuất nguồn gốc cho phép xác định đến từng hộ trồng và quy trình canh tác.
Xây dựng hạ tầng dữ liệu hoàn chỉnh
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất của chuyển đổi số nông nghiệp hiện nay là thiếu hụt và phân tán dữ liệu. Dù đã có định hướng xây dựng các cơ sở dữ liệu ngành từ trồng trọt, chăn nuôi đến thủy sản, lâm nghiệp nhưng phần lớn dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu tính liên thông và cập nhật theo thời gian thực. Dữ liệu thực tiễn sản xuất từ các thiết bị drone hay cảm biến trên đồng ruộng cũng chưa được thu thập và tích hợp đầy đủ.
Giám đốc Công ty cổ phần công nghệ thông minh MiSmart Trần Thiên Phương nhận định: Drone hiện nay vẫn chủ yếu dừng ở mức “cơ giới hóa trên không”, dùng để “phun theo kế hoạch” thay vì “phun theo nhu cầu thực tế của cây trồng”, làm giảm hiệu quả nông nghiệp chính xác. Mặc dù drone có thể tích hợp camera đa phổ hoặc hồng ngoại để phát hiện stress cây trồng nhưng tại Việt Nam ứng dụng này còn rất hạn chế do thiếu dữ liệu huấn luyện và nền tảng phân tích. Đặc biệt, dữ liệu từ drone chưa được lưu trữ và khai thác một cách hệ thống khiến Việt Nam bỏ lỡ cơ hội xây dựng “tài sản dữ liệu số” phục vụ nghiên cứu và hoạch định chính sách.
“Việt Nam không thiếu drone nhưng đang thiếu dữ liệu và nền tảng số để biến drone thành công cụ ra quyết định thông minh trong nông nghiệp. Chúng ta cần xây dựng nền tảng dữ liệu nông nghiệp quốc gia kết nối drone, IoT và dữ liệu vệ tinh; chuẩn hóa và mở dữ liệu từ Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật và các cơ quan liên quan; khuyến khích hợp tác công-tư (PPP) trong phát triển hệ sinh thái nông nghiệp số; phát triển bộ dữ liệu sâu bệnh quốc gia để huấn luyện các mô hình AI…”, ông Phương nhấn mạnh.
Thực tiễn từ các mô hình tiên phong như Tập đoàn TH cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận tích hợp giữa công nghệ và quản trị dữ liệu. Cụ thể ở khâu kiểm soát chất lượng, TS Trần Trung Mỹ, Phó Giám đốc Đảm bảo chất lượng Tập đoàn TH cho biết: Ngoài việc thực hiện chức năng phân tích mẫu, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại còn đóng vai trò như một “điểm nút dữ liệu” trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
Các mẫu nguyên liệu, nước uống và sản phẩm đầu ra được kiểm định, số hóa và đồng bộ vào hệ thống dữ liệu tập trung, qua đó bảo đảm tính nhất quán, độ tin cậy và khả năng truy xuất dữ liệu xuyên suốt quá trình sản xuất. Theo đại diện lãnh đạo Tập đoàn, toàn bộ dữ liệu từ đồng ruộng, đàn bò, hệ thống phối trộn thức ăn đến các chỉ số kiểm nghiệm đều được đồng bộ về nền tảng dữ liệu tập trung của công ty.
Trên nền tảng này, các công cụ phân tích dữ liệu và AI hỗ trợ ra quyết định sản xuất, kinh doanh theo thời gian thực. Ngoài phục vụ nội bộ, một phần dữ liệu còn được tích hợp với các nền tảng dữ liệu quốc gia, góp phần hình thành hệ sinh thái dữ liệu nông nghiệp mở. Theo Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến cuối năm 2025, Bộ đã ban hành quy định kỹ thuật cho 16 cơ sở dữ liệu lớn thuộc các lĩnh vực trọng yếu như khí tượng thủy văn, đất đai, trồng trọt và bảo vệ thực vật, thủy sản, kiểm ngư, tài nguyên nước, thống kê ngành, môi trường, viễn thám, chăn nuôi-thú y, kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn...
Cục trưởng Chuyển đổi số Lê Phú Hà cho biết: Cục đã bố trí đầy đủ trang thiết bị, hạ tầng kỹ thuật; thiết kế, cài đặt, triển khai mô hình dữ liệu dùng chung tại Trung tâm dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và sẵn sàng kết nối, tích hợp, đồng bộ dữ liệu lên Trung tâm dữ liệu quốc gia; phối hợp các đơn vị liên quan xác định nội dung thông tin và phương thức kết nối, đồng bộ dữ liệu cho các nhóm cơ sở dữ liệu…
Đây chính là điều kiện quan trọng để chuyển đổi số nông nghiệp chuyển từ giai đoạn thu thập, xây dựng dữ liệu sang quản trị, vận hành dựa trên dữ liệu, phù hợp với xu thế nông nghiệp hiện đại trên thế giới.
>> Bài 1: Hình thành “hạ tầng vận hành” mới