Bác Tôn - một “gương mẫu đạo đức cách mạng”

Chúc mừng Bác Tôn thọ 70 tuổi (1958), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân". Cả cuộc đời trọn vẹn phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Bác Tôn để lại cho hậu thế biểu tượng sáng ngời về “chất cách mạng tinh khiết không gì làm phai nhạt được, từ thuở thanh niên đến cuối đời, vượt qua muôn trùng thử thách, ngày càng ngời lên vẻ đẹp đẽ và cao quý” (Phạm Văn Đồng).
Chủ tịch Tôn Đức Thắng và các đại biểu tại Đại hội Mặt trận thống nhất Việt Nam, ngày 31/1/1977. (Ảnh TTXVN)
Chủ tịch Tôn Đức Thắng và các đại biểu tại Đại hội Mặt trận thống nhất Việt Nam, ngày 31/1/1977. (Ảnh TTXVN)

Miền quê Mỹ Hòa Hưng hiền hòa ven bờ sông Hậu đón tiếng khóc chào đời của người con ưu tú Tôn Đức Thắng vào ngày 20 tháng 8 năm 1888. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân khá giả, sau khi tốt nghiệp bậc học cơ sở ở Long Xuyên, năm 1906, chàng thanh niên Tôn Đức Thắng đến với thành phố Sài Gòn để học việc và trở thành người thợ máy. Ở đây, Người đã sớm tham gia và hòa nhập cuộc sống của những người thuộc lớp cần lao.

Năm 1912, Tôn Đức Thắng tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son và vận động học sinh Trường Bách Nghệ Sài Gòn bãi khóa. Những cuộc đấu tranh đầu tiên đó của giai cấp công nhân đã giành được thắng lợi và biểu lộ sức mạnh của lực lượng xã hội mới, làm cho bọn thống trị phải lo lắng và hoảng sợ. Để tránh sự truy nã của bọn chúng, Tôn Đức Thắng sang làm thợ máy tại một quân cảng ở miền nam nước Pháp và trở thành “người công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp và xây dựng mối tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt-Pháp”[1].

Tháng 4/1919, người thợ máy Tôn Đức Thắng đã cùng với anh em binh lính Pháp kéo lá cờ đỏ phản đối chiến tranh lên trên chiến hạm Phrăng-xơ trước cửa thành Xê-vat-tô-pôn. Bằng hành động đó, Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên tham gia đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng tháng Mười và xây đắp tình hữu nghị Việt-Xô. Sau này, qua lãnh đạo công nhân Ba Son bãi công, kéo dài thời gian sửa chữa đô đốc hạm Mitchelet đang trên đường sang đàn áp cách mạng Trung Quốc, Bác Tôn lại một lần nữa trở thành lớp người đầu tiên xây đắp tình đoàn kết Việt-Trung.

Năm 1920, đồng chí Tôn Đức Thắng trở về Tổ quốc và Người tiếp tục cuộc đời làm thợ và lao ngay vào những hoạt động yêu nước và cách mạng.

Trong những năm 1920-1921, cùng với một số người cùng chí hướng, đồng chí Tôn Đức Thắng đã sáng lập và là Hội trưởng tổ chức Công hội bí mật đầu tiên ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Đây được xem là tổ chức tiên tiến nhất trong lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam cho đến thời điểm này, chuẩn bị tiền đề để đưa giai cấp công nhân Việt Nam từng bước lên vũ đài chính trị. Từ năm 1925, Công hội bí mật là cơ sở cho sự phát triển của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Sài Gòn và Nam Bộ, giữ vai trò quan trọng giúp cho giai cấp công nhân Việt Nam tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin. Do đó, cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Tôn Đức Thắng là lớp người đầu tiên tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp công nhân Việt Nam và tham gia hoạt động tích cực trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Gần 17 năm bị tù đày, trong đó có 15 năm bị tù đày ở "địa ngục" Côn Đảo là thử thách lớn trong cuộc đời người chiến sĩ cách mạng Tôn Đức Thắng. Trong những tháng năm thử thách khốc liệt, Tôn Đức Thắng luôn tỏ rõ là một người cách mạng chân chính, có nghị lực phi thường, trung thành vô hạn với Đảng, với cách mạng. Bản lĩnh và hành động của Người làm kẻ thù phải e dè, kính nể, đồng chí, bạn bè càng quý trọng, kính phục. Tôn Đức Thắng chiến thắng kẻ thù ngay trong lòng nó.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Tôn Đức Thắng và các chiến sĩ cách mạng được đón về đất liền và tiếp tục công cuộc kháng chiến kiến quốc, chống thực dân Pháp đến ngày toàn thắng. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập - tự do - thống nhất Tổ quốc, Người đã dành những tình cảm sâu nặng nhất cho cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ của đồng bào miền nam, ra sức cùng với toàn Đảng, Nhà nước tăng cường lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc - hậu phương lớn của công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để làm tròn nghĩa vụ đối với miền nam tiền tuyến lớn anh hùng.

Là Đại biểu Quốc hội từ khóa I (1946) đến khóa V (1980), liên tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1951-1980, đồng chí Tôn Đức Thắng đã được Đảng và Nhà nước ta đề cử giữ nhiều trọng trách: Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (9/1955), Phó Chủ tịch nước (1960) và đồng chí vinh dự được bầu làm Chủ tịch nước (1969-1980) - kế nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Trong những cương vị trọng trách của mình, cùng với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đồng chí Tôn Đức Thắng đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng – Huân chương cao quý nhất của nước ta – do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng.

Tháng 12/1955, đồng chí Tôn Đức Thắng là người Việt Nam đầu tiên vinh dự được Ủy ban giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lênin của Liên Xô trao tặng giải thưởng Lênin Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc.

Tháng 11/1967, do những cống hiến lớn lao với sự nghiệp hòa bình thế giới. Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô quyết định tặng đồng chí Tôn Đức Thắng huân chương Lênin - huân chương cao quý nhất của Nhà nước Liên Xô. Vinh dự đặc biệt đó không chỉ dành cho đồng chí Tôn Đức Thắng, mà còn là vinh dự chung cho cả nhân dân Việt Nam ta.

Lẽ tất nhiên chẳng phải ai muốn cũng trở thành vĩ nhân. Chỉ có những người gian truân trong khổ luyện, nhiệt thành trong cống hiến, dạt dào tình yêu thương mới có thể hòa nhập vào quần chúng nhân dân mà tỏa sáng. Bác Tôn của chúng ta là người như thế. Cả cuộc đời Bác, từ lúc sinh ra trong một gia đình khá giả đến khi trường kỳ nếm trải gian khổ của cuộc đời cách mạng, cả lúc trở thành người đứng đầu Nhà nước ta, xuyên suốt là một quá trình nỗ lực tự rèn luyện đức và tài.

Đó là cuộc đời của một học trò sau khi mãn khóa không chọn con đường làm thầy thông, thầy ký cốt sao “béo tấm thân, phì gia đình, lợi dòng tộc” mà chọn con đường làm thợ, mà lại là thợ rất giỏi tay nghề, để rồi trở thành người sáng lập công hội đỏ - tổ chức cách mạng tiên phong của công nhân Việt Nam. Sự lựa chọn bắt nhịp đúng với xu thế thời đại của anh thanh niên Hai Thắng cho chúng ta thấy rằng thanh niên cần phải có một cái đầu “tỉnh” và lá gan “dũng cảm” để biết loại bỏ những cám dỗ lợi ích vật chất trước mắt, chọn đúng đường đi cho mình - con đường mà đích đến sẽ là lòng tri ân và tôn kính của người đời vì những đóng góp cho xã hội.

Đó là cuộc đời của một nhà hoạt động cách mạng không nề hà khó khăn, ngại khổ cực. Một người mà đến khi đứng đầu Nhà nước ta vẫn giản dị trong chiếc áo vá nối miễn sao nhân dân no ấm. Một người chứa trong mình ngọn lửa kiên trung sắt đá và cao ngất dũng khí của hào kiệt Lạc Việt ngàn đời, tỏa sáng ngay trong nơi tối tăm nhất - nhà tù thực dân.

Đó là một con người suốt đời rèn luyện đạo đức cách mạng, suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Mặc dù là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Tôn Đức Thắng lúc nào cũng giữ được phong cách công nhân trong sáng của mình: khiêm tốn, giản dị, chân thành, luôn hòa mình trong quần chúng. Người luôn đi sâu đi sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân và kiểm tra hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Mặc khác, không những bản thân gương mẫu thực hiện, mà Người còn luôn luôn căn dặn, nhắc nhở, giáo dục cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở phải hết lòng vì dân, vì nước và luôn phải coi nhân dân là gốc của cách mạng. Bác Tôn - một người mà đạo đức đã phục được nhân tâm của quảng đại nhân dân Việt Nam, trở thành người tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bác Tôn luôn là con người của hành động, từ những hành động mang tính tự phát được kích thích bởi tấm lòng yêu nước, ủng hộ lẽ phải đến những đấu tranh không mệt mỏi cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam, rộng hơn là cách mạng thế giới. Đó là một người giản dị nhưng vĩ đại!

...............

[1] Tỉnh ủy An Giang - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng với cách mạng Việt Nam và quê hương An Giang, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tr. 186.

Có thể bạn quan tâm

Đẩy mạnh bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức. (Ảnh: baochinhphu.vn)

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng số

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 22/4/2026 về đẩy mạnh bồi dưỡng và đánh giá kiến thức, kỹ năng số đối với cán bộ, công chức, viên chức. Đây được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Nhân chứng lịch sử ở xã Hưng Nguyên Nam nói chuyện về ngày Đại thắng 30/4 hào hùng.

Hưng Nguyên Nam: Viết tiếp câu chuyện hòa bình trên quê hương cách mạng

Nửa thế kỷ sau Đại thắng mùa Xuân 1975, ký ức chiến tranh trên quê hương Hưng Nguyên Nam (Nghệ An) vẫn được gìn giữ như mạch nguồn bồi đắp niềm tự hào dân tộc, hun đúc lý tưởng cho thế hệ trẻ, đồng thời trở thành động lực để địa phương vững bước phát triển trong thời kỳ mới.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và Đoàn công tác Trung ương tham dự Chương trình.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thăm tặng quà tại Quảng Ninh

Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4) và Quốc tế Lao động (1/5), Đoàn công tác Trung ương do đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ đã đến thăm, tặng quà các gia đình chính sách, công nhân, lao động có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Lãnh đạo thành phố Đông Hưng tặng hoa chào mừng Đoàn đại biểu các xã, phường tỉnh Quảng Ninh sang dự kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập thành phố Đông Hưng.

Tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị biên giới Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc)

Ngày 29/4, Đoàn đại biểu các xã, phường tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) gồm Móng Cái 1, Móng Cái 2, Móng Cái 3 và xã Hải Sơn do đồng chí Hồ Quang Huy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Móng Cái 1 làm Trưởng đoàn đã tham dự chương trình kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập thành phố Đông Hưng, Trung Quốc 29/4 (1996-2026).

Một góc Di tích lịch sử quốc gia Trận Giồng Bốm (thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau) ngày nay nhìn từ trên cao.

80 năm Trận Giồng Bốm: Tri ân quá khứ, kiến thiết tương lai

Sáng 30/4, trong không khí hào hùng của những ngày tháng Tư lịch sử, tỉnh Cà Mau đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (1946-2026). Đây là một trong những sự kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử sâu sắc, cũng là một trong nhiều hoạt động thiết thực chào mừng 51 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

Thành phố Hồ Chí Minh năng động, phát triển.

Một điểm đến an toàn, một Thành phố đáng sống

51 năm sau ngày đại thắng, Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định là siêu đô thị năng động, đầu tàu kinh tế của cả nước. Với tư duy đổi mới và quản trị nhân văn, Thành phố không chỉ bứt phá về hạ tầng, tài chính mà còn bồi đắp giá trị nghĩa tình sâu sắc, khẳng định là điểm đến an toàn, một Thành phố đáng sống.

Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tại Nam Sudan trao quà tặng người dân địa phương.

Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa nhân dịp 30/4 và 1/5

Các hoạt động thiết thực nhân dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước và Ngày Quốc tế Lao động thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự tích cực, chủ động của lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam trong việc tham gia xây dựng môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững tại Nam Sudan.

Việt Nam và Nhật Bản tăng cường hợp tác y tế. (Ảnh ĐẠI SỨ QUÁN NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM)

Viết tiếp câu chuyện của tình hữu nghị

Trên hành trình hơn 50 năm đồng hành và vun đắp quan hệ ngoại giao, Việt Nam và Nhật Bản đã đạt được nhiều bước tiến tích cực, sâu rộng trong hợp tác song phương. Những thành tựu này chính là nền tảng quan trọng để hai nước tiếp tục kiến tạo tương lai hợp tác lâu dài và bền vững.