“Khi chúng tôi ra Việt Bắc năm 1951, tôi chưa đọc hết văn của anh. Những ngày đó tôi được thấy anh và gặp anh cùng với Tô Hoài thỉnh thoảng ra viết ở ngoài lán trong rừng. Bấy giờ cơ quan hội Văn nghệ ở cây số 7 đường Tuyên Quang-Hà Giang. Quyển nhật ký của Nam Cao với những mảnh đạn xuyên thủng ở Bắc Sơn, hôm hai anh bị trận máy bay bắn ở Vũ Lăng, Tô Hoài vẫn đang giữ...
... Anh tên thật là Trần Hữu Trí, nhưng tôi thì tôi vẫn chỉ nhớ một tên: Nam Cao.
Mới ngoài ba mươi tuổi anh đã mất, anh đã hy sinh vì Tổ quốc. Nói cho rõ hơn, sau một cuốn tiểu thuyết viết chưa đạt, anh đã về quê trong địch hậu để tìm lại những nhân vật mới và cũ để viết cho thật đúng và thật hay, khi đi qua cánh đồng chiêm trũng bị giặc Pháp bắt được và đưa lên bờ mới bắn chết. Anh giữ lòng trung kiên của một người cộng sản...
... Con người gày gày, xương xương, đôi vai hơi còng xuống và nhất là đôi mắt sâu thẳm thâm quầng đầy day dứt. Anh luôn luôn đấu tranh với tự bản thân mình và tự phê bình mình. Khi chỉ có hai đứa tôi thôi, anh đã đọc một đoạn trong bút ký Đường vô Nam cho tôi nghe: “Cây bút của tôi bất lực. Nó không khạc ra lửa và ra đạn như cây súng. Nó ì ạch chạy theo phong trào mãi mà không kịp. Các bạn tôi cũng đều thấy na ná như tôi. Họ đều thấy rằng bàn tay họ nếu chưa cầm súng một phen thì cầm bút cũng vụng về”.
Tôi vội ngước nhìn anh và nói, “Anh Nam Cao ạ! Anh viết đúng đấy. Khổ thân cho tôi, tôi đã từng cầm súng mà sao cầm bút vẫn vụng về”.
… Những đêm mưa tầm tã là những đêm mà Nam Cao thường hay viết nhiều nhất. Anh thao thức và đi đi lại lại, khi ngồi lúc đứng, trông khổ sở lắm. Anh viết ra rồi gạch đi rồi lại viết ra. Những đêm mưa tầm tã ấy là những tiếng khóc của lòng anh khi nghĩ đến các anh Vệ quốc quân: “Ôi những anh Vệ quốc quân! Tôi biết các anh phải nhịn cơm ăn cháo, đứng dầm mưa suốt ngày suốt đêm mà đánh giặc. Lòng các anh cũng là lòng súng thép. Mưa có bao giờ ỉu xìu được một tấm lòng bằng thép đã tôi già. Tôi xấu hổ cho tâm hồn ủy mị của tôi vẫn chưa mạnh hẳn ư? Các anh! Các anh chiến sĩ không tên! Các anh dạy tôi biết hy sinh, biết chiến đấu, chiến đấu lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến tên mình, không nghĩ gì đến cả thân mình nữa”.
Anh đã đọc một đoạn bút ký Ở rừng như vậy. Và khi gập bản thảo lại, anh chỉ tay về nơi xa xa, mắt bỗng sáng rực đầy mơ ước và nói: “Thông ạ, những nhà máy sau này sẽ mọc lên rất nhiều ở trên này”.
(Trang 228-233, “Những người thân, những người bạn”, Hoàng Trung Thông, NXB Hội Nhà văn).