Chưa được như kỳ vọng
Trong ba năm vừa qua, khu vực KTTN đã có sự tăng tốc phát triển, nhờ những đổi mới quan trọng trong Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư… Bước ngoặt lớn nhất là Nghị quyết T.Ư 5 về phát triển KTTN; và sau đó ngày 12-6-2017, QH thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Việc triển khai nghị quyết và vận dụng luật này, cùng việc Chính phủ chuyển mạnh sang kiến tạo, đồng hành cùng DN, biến 2017 thành năm “Giảm bớt chi phí cho DN”, đã tạo ra sinh khí mới cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, nhìn lại bức tranh nền kinh tế hiện tại và chân dung các thành phần kinh tế sau 30 năm Đổi mới theo định hướng nền KTTT định hướng XHCN, phát triển kinh tế nhiều thành phần, PGS, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Kinh tế Việt Nam, cho rằng, vấn đề của chúng ta là vượt qua nước đi trước chứ không phải bỏ xa nước đi sau, nhưng khoảng cách với nước đi trước ngày càng xa, tụt hậu xa hơn đang là một thực tế.
Chỉ trong khoảng thời gian 30 năm thôi mà thu nhập của Hàn Quốc từ 100 USD/người lên hơn 10.000 USD và bây giờ là 35.000 USD, ta đi sau họ 30 năm và sau 30 năm ta từ 200 USD lên 2.385 USD/người. Bức tranh các thành phần kinh tế của Việt Nam đang cho thấy “tụt hậu phát triển là nguy cơ lớn nhất”, các thành phần kinh tế đang phát triển chưa như kỳ vọng, vẫn bị khuyết và thiên lệch. Nhìn theo tỷ trọng trong GDP thì thấy lực lượng sản xuất lớn nhất của nền kinh tế chiếm tới 31,6% GDP chính là khu vực hộ gia đình, mà hộ gia đình thì manh mún, nhỏ lẻ. 17,6% GDP là DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì cũng phần lớn là DNNVV và siêu nhỏ. Kinh tế tập thể vẫn không phát triển, chỉ bằng 3,7% GDP.
Lực lượng chủ đạo của nền kinh tế với tỷ trọng tới 27,8% GDP là doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) còn rất nhiều chuyện đáng bàn. Còn khu vực KTTN, động lực tăng trưởng quan trọng thì mới chỉ bằng 7,8% GDP, chưa được như kỳ vọng.
Theo chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du (Đại học Fulbright Việt Nam), đã có “Vietjet là một niềm tự hào của Việt Nam. Vingroup tạo ra nơi ở đẳng cấp cho hàng trăm nghìn gia đình. Hòa Phát sản xuất thép xóa bỏ thời kỳ chỉ đào quặng lên bán. Hay Trường Hải là lá cờ đầu sản xuất ô-tô… Nhưng vẫn mới chỉ là “bánh tẻ”!”.
KTTN phát triển mạnh về số lượng nhưng đông mà yếu, đến nay chỉ một số DNTN lớn đang dần vươn lên thành những DN tầm cỡ, có sức ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế. Chúng ta chưa có được một thế hệ các nhà công nghiệp ngang tầm thế giới. Phần lớn DNTN quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu.
Nhỏ dần do rào cản
Gần đây, khu vực KTTN đang thể hiện xu hướng đầu cơ kiếm lời mạnh hơn động cơ làm giàu bằng tinh thần chinh phục, lao vào cạnh tranh để phát triển, và dù thành lập nhiều nhưng đóng cửa cũng lắm. Đã có nhiều chính sách hỗ trợ nhưng KTTN chưa được hưởng nhiều, không được Nhà nước yểm trợ, vẫn bị lấn át và chưa có được sự bình đẳng thật sự. Theo GS, TS Phí Mạnh (Đại học Quốc gia Hà Nội), con đường đi tới KTTT định hướng XHCN đã được chọn, sau 30 năm, đến nay vấn đề phát triển chưa giải quyết được, những khó khăn trong tăng trưởng và sự phát triển thiên lệch, khiếm khuyết của các thành phần kinh tế là “tích lũy từ sự ngập ngừng và thiếu triệt để trong việc thực thi đường lối đổi mới”.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2017, cả nước có 126.859 DN đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 1.295,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% về số DN và 45,4% về số vốn đăng ký so năm 2016. KTTN trong nước là lực lượng chủ yếu tạo việc làm mới, thu hút lực lượng lao động tăng lên hằng năm. Bình quân mỗi năm, KTTN giải quyết việc làm cho hơn một triệu lao động. Mức đóng góp của các DN ngoài nhà nước vào ngân sách nhà nước năm 2016 là 434,7 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 45% tổng thu, bình quân tăng 17%/năm giai đoạn 2010-2016.
TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trăn trở, dù số lượng DN thành lập mới gia tăng, nhưng khu vực DNTN lại đang nhỏ dần. Hội chứng thiếu vắng các DN cỡ vừa chưa được khắc phục. Theo điều tra của VCCI, DNTN đang giảm đi theo thời gian cả về quy mô vốn và lao động. DN khu vực FDI cũng đang giảm đi về quy mô vốn, số lượng lao động và khả năng sinh lời. Tỷ lệ DN báo lãi giảm xuống còn 54,3%, và 37,9% số DN báo lỗ cũng là một con số kỷ lục mới.
DN đang nhỏ đi do bị thủ tục hành chính trói buộc, chi phí sản xuất cao, bất bình đẳng giữa các loại hình DN không hề giảm. Môi trường kinh doanh (MTKD), đầu tư còn nhiều rào cản, điều kiện kinh doanh nhiều đến mức không thống kê nổi.
Theo điều tra PCI năm 2017, tính minh bạch của MTKD còn chưa cao, thiết chế pháp lý, hệ thống giải quyết tranh chấp cho DN chưa tốt, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu... 28% số DN chưa hài lòng với kết quả giải quyết công việc của các công chức. DN cũng đang lo lắng hơn về những phiền hà trong việc tiếp cận đất đai và sự rủi ro trong việc bảo đảm quyền sử dụng đất. Tình hình an ninh - trật tự ở một số địa phương cũng là mối quan ngại cho nhiều DN… Vẫn có hơn 59% số DN cho biết, họ vẫn phải trả các chi phí không chính thức, dù chỉ số này đã giảm so những năm trước.
Ông Phạm Sỹ An, Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng, DN đang nhỏ dần bởi thể chế chưa tạo ra những cam kết tin cậy để tưởng thưởng xứng đáng cho nỗ lực đầu tư. DN khó cạnh tranh và không thể liên kết cũng vì thể chế KTTT chưa hoàn thiện. Cốt lõi của KTTT là giá cả nhưng những loại giá cơ bản là giá đất, giá vốn, giá năng lượng… lại không theo thị trường. Môi trường không công khai minh bạch, hệ thống khuyến khích DNTN cũng chưa được thiết kế đúng. Các cơ chế, chính sách của nhà nước chưa thật sự giải quyết được những khó khăn mà các DNTN đang gặp phải.
Phần lớn doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu. Ảnh: SONG ANH
Hoàn thiện thể chế KTTT
Theo ông Trần Đình Thiên, là lực lượng đổi mới, tiên phong trong phát triển thị trường, đóng góp lớn cho đất nước, cho nền kinh tế nhưng mãi sau 30 năm, đến năm 2017, KTTN mới được xác định là một trong những “động lực quan trọng”. Tuy có chuyển biến căn bản trong nhận thức về khu vực KTTN, song vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng chưa được làm rõ ở mức cần thiết để có thể triển khai trong thực tiễn như: đặc điểm, vai trò cụ thể của khu vực KTTN, quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN.
Viện trưởng Nghiên cứu Quản lý kinh tế T.Ư Nguyễn Đình Cung thì cho rằng, cần phải thị trường hơn. Phát triển KTTN lành mạnh theo cơ chế KTTT là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài. KTTN là khu vực tạo ra tăng trưởng rất nhanh, bền vững nhất nhưng đang vấp phải nhiều rào cản. Khu vực này cần được đánh giá đúng, xác định đúng vai trò, vị trí với định hướng phát triển KTTT. Phải tạo môi trường thuận lợi cho KTTN phát triển, để các tập đoàn KTTN đã lớn mạnh càng lớn mạnh hơn và những DNNVV trở thành những DN lớn hơn.
Theo TS Nguyễn Hồng Sơn (Đại học Quốc gia Hà Nội), hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là điều kiện tiên quyết để tạo lập môi trường thuận lợi cho KTTN phát triển, và cần thiết lập nền tảng cơ bản cho khu vực KTTN phát triển là ổn định kinh tế vĩ mô, xóa bỏ rào cản và tạo lập thị trường. KTTN ngày càng có vai trò lớn, nhưng cũng cần thấy rằng vai trò ấy chưa được phát huy đầy đủ do còn những khó khăn, cản trở từ chính bản thân KTTN và từ bất cập trong công tác quản lý nhà nước với KTTN.
Còn theo GS Nguyễn Quang Thái, Viện Nghiên cứu Phát triển Việt Nam, khu vực KTTN làm ra nhiều của cải nhất, sử dụng nhiều lao động nhất dù tay nghề thấp, nhưng chưa được đối xử bình đẳng. Nguyên nhân vấn đề là tư duy cũ và bộ máy quản trị. Ở đây cần những quyết sách mạnh mẽ từ Chính phủ. Đó không đơn giản chỉ là việc thay đổi chính sách, mà phải là những hành động cụ thể từ những người thực thi chính sách… Một chính sách có tốt đến đâu nhưng người trực tiếp thực thi không hành động tích cực thì cũng trở thành rào cản. Cả nước kỳ vọng vào một Chính phủ kiến tạo, liêm chính và hành động, để chính sách không chỉ nằm trên giấy, để những quyết tâm không chỉ là những hô hào…