Nợ công sẽ có “ngưỡng” cảnh báo phù hợp

Từ ngày 1-7 tới, khi Luật Quản lý nợ công (QLNC) chính thức có hiệu lực thì khái niệm mới “ngưỡng” QLNC sẽ được áp dụng. Nghĩa là khi mức nợ công tiến gần đến mức “trần” cơ quan quản lý sẽ thực hiện các biện pháp để xử lý, kiểm soát. Trao đổi ý kiến với phóng viên báo Thời Nay về vấn đề này, Cục trưởng Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) Trương Hùng Long cho biết, đây là một thông lệ quốc tế phổ biến.

Nợ công sẽ có “ngưỡng” cảnh báo phù hợp

Phóng viên (PV): Luật QLNC 2017 được kỳ vọng sẽ làm “hạ nhiệt” nợ công khi gắn trách nhiệm của tập thể, cá nhân với trách nhiệm quản lý huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ công. Ông có thể chia sẻ những điểm mới tại Luật này?

Ông Trương Hùng Long (THL): Ngoài các quy định về chỉ tiêu an toàn nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình QLNC ba năm và kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm, hạn mức bảo lãnh Chính phủ 5 năm, hằng năm và hạn mức cho vay lại hằng năm thì Luật QLNC 2017 có điểm rất mới là “ngưỡng” cảnh báo nợ công. Vì các nước phát triển và các nước trong khu vực cũng sử dụng “ngưỡng” cảnh báo. Nghĩa là trước khi đến chạm “trần” nợ công sẽ có “ngưỡng” cảnh báo báo động đỏ tình trạng vay của chúng ta. Từ đó có biện pháp kiểm soát lại nguồn vay nợ. Cái này trong Luật QLNC ghi rõ mức “ngưỡng” nợ công do Quốc hội (QH) quyết định trong từng thời kỳ. Như vậy, mỗi thời kỳ 5 năm và trong quá trình điều hành, quản lý khi thấy nợ công tiến sát đến “trần” thì sẽ phải có các cảnh báo. Khi nợ đến “ngưỡng”, chúng ta phải kiểm soát các nhu cầu về vay nợ, đồng nghĩa kiểm soát bội chi, cho vay lại, hạn mức về bảo lãnh.

PV: Chẳng hạn như tại Việt Nam,“trần” nợ công là 65% GDP. Vậy cụ thể có những “ngưỡng” mức cảnh báo nào? Ông có thể đưa những thí dụ mà các nước đang áp dụng?

Ông THL: Thí dụ ở Ba Lan, “trần” nợ công vừa nằm trong quy định chung của khối Liên hiệp châu Âu (EU) nhưng cũng rất đặc thù Ba Lan là không được quá 60% GDP. Trước khi tới “trần” sẽ có mức cảnh báo: từ 48 - 50%, rồi từ 50 - 55% và từ 55 - 60% là “ngưỡng” cuối cùng. Từng “ngưỡng” một, họ có từng cấp độ cảnh báo và cách kiểm soát khác nhau và từ “ngưỡng” 55 - 60% là họ ngưng vay mới, kiểm soát các khoản đầu tư của nhà nước chi từ ngân sách ra. Thậm chí người ta dừng tăng lương để kiểm soát.

Hiện nay, Việt Nam vẫn đang ở trong luật cũ là “trần” nợ công ở mức 65%. Năm 2017, nợ đã ở mức 61,3% tức là vẫn trong “ngưỡng” kiểm soát. Và thời gian tới đây, khi có Nghị định (NĐ) hướng dẫn và Luật QLNC 2017 được thực thi thì chắc chắn rằng năm 2018 bàn đến mức nào sẽ có mức “ngưỡng” cảnh báo phù hợp.

“Trần” nợ công của Việt Nam hiện nay đang ở mức 65% GDP. Ảnh: LAM ANH

PV: Đại diện sở Tài chính TP Hồ Chí Minh vừa “than phiền” rằng, trong công tác giải ngân, nhiều dự án (DA) ODA không có lượng vốn đủ đáp ứng, vấn đề này sẽ tháo gỡ như thế nào thưa ông?

Ông THL: Đại diện sở Tài chính TP Hồ Chí Minh cũng có nêu ra việc không đẩy nhanh được tiến độ giải ngân vốn ODA. Nó xuất phát từ Luật Đầu tư công hiện nay. Theo yêu cầu QH, các khoản vay nước ngoài, vay cấp phát lại cho địa phương đều phải theo kế hoạch. Trước đây, theo NĐ 38, chúng ta giải ngân theo tiến độ DA thì không có phát sinh. Tức là tiến độ như thế nào thì giải ngân theo tiến độ đó. Thực tế, chúng ta cam kết với nhà đầu tư nước ngoài thì giải ngân theo tiến độ DA. Nhưng khi chúng ta đặt ra việc giải ngân theo kế hoạch, để đưa vào giải ngân trung hạn và dài hạn thì có nghĩa là: cấp phát. Tức là chúng ta phải có kế hoạch sát thực tế và theo nhu cầu.

Năm 2018, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và dưới sự chung sức của các bộ, ngành cũng tháo gỡ tích cực cho địa phương. Tôi hy vọng, khi có hướng dẫn từ NĐ đồng thời kết hợp hướng dẫn giải ngân vay ODA việc cấp phát vốn sẽ được sửa lại, chúng ta sẽ có kế hoạch sát, đúng để triển khai.

PV: Để hướng dẫn Luật QLNC, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng dự thảo sáu NĐ, hướng dẫn chi tiết các nội dung về nghiệp vụ QLNC. Bộ Tài chính đã phối hợp Ban soạn thảo xây dựng dự thảo nội dung, gửi xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan. Vậy có những nội dung nào được quan tâm nhất thưa ông?

Ông THL: Nội dung NĐ về nghiệp vụ QLNC có ba nội dung cơ bản. Thứ nhất, công cụ, quản lý nợ là nghiệp vụ mới. Nội dung này đang có sự “phân vân” của các địa phương. Chúng ta phải soát xét lại nội dung: kế hoạch nợ công 3 năm, 5 năm, hằng năm khớp với kế hoạch 3 năm, 5 năm, và hằng năm từ đó khớp nối với đầu tư công trung hạn 3 năm, 5 năm và hằng năm. Thứ hai, “trần” nợ và giới hạn nợ. Tức là khi nào cần cảnh báo, và áp dụng các biện pháp nào. Có phải các chỉ tiêu xảy ra cùng lúc thì mới áp dụng cảnh báo không, hay là “ngưỡng” chạm cảnh báo hay như thế nào và biện pháp nào tương ứng từng nội dung cũng cần phải làm rõ. NĐ sẽ phải làm rõ các kịch bản có thể xảy ra, áp dụng biện pháp nào trong trường hợp nào là cần cụ thể. Thứ ba, việc kiểm soát rủi ro. Trước đây, Việt Nam vay nợ theo điều kiện ODA, thì nay phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường. Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi. Có nghĩa là chúng ta phải quan tâm rủi ro từ lãi suất, tỷ giá… Hay việc công khai minh bạch, mọi người rất quan tâm đến cách thức công khai. Công khai cho toàn dân, các cấp quản lý, cho QH và các cơ quan giám sát. Sự phối hợp giữa các cấp là phải rất rõ.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!