1 Nhà thơ Phạm Tiến Duật (1941 - 2007) sau khi tốt nghiệp ngành Văn Trường đại học Sư phạm Hà Nội, ông trở thành người lính lái xe Trường Sơn Đoàn 559. Với chùm thơ “Lửa đèn”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”, “Nhớ”, ông đoạt Giải nhất cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ năm 1969-1970. Năm 2001, Phạm Tiến Duật được tặng Giải thưởng Nhà nước. Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật. Thơ ông trong sáng, đầy tinh thần lạc quan cách mạng và có sức sống lâu bền trong tình cảm yêu quý, trân trọng của các tầng lớp nhân dân.
Có thể nói “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Gửi em cô thanh niên xung phong” là ba bài thơ tiêu biểu, hay nhất trong di sản thơ đồ sộ của Phạm Tiến Duật. Chúng đều được viết vào năm 1969, năm tác giả mới 28 tuổi.
Đó là ba bài mà sự thật cuộc sống ùa lên trang giấy để làm nên thơ. Trong lời chú bài “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây”, tác giả viết: “Có một dòng không đúng sự thật: “Hết rau rồi em có lấy măng không”. Cả măng và rau đều chỉ có trong mùa mưa, hết rau thì cũng hết măng. Ở phía tây Trường Sơn nhiều nơi vào mùa khô bộ đội phải ăn cả củ móng ngựa, một loại củ còn chát hơn cả củ nâu. Nhưng chẳng nhẽ lại viết “Hết rau rồi em có đào củ móng ngựa hay không”. Đôi khi thơ chỉ cần gợi mà không cần thực vậy.
2 Với bài thơ “Gửi em cô thanh niên xung phong”. Trong bản in lần đầu trên Báo Văn nghệ cũng như các tuyển tập sau này (mới nhất là “Toàn tập Phạm Tiến Duật”, NXB Hội Nhà văn 2009 đều ghi nơi sáng tác là “Đức Thọ, 1968” với lời chú thích năm 1969 theo Tạp chí Học tập: “Chỉ tính riêng ở tỉnh Hà Tĩnh, số đường làm mới trong ba năm chống Mỹ, cứu nước (1965-1967) đã bằng số đường của cả thế kỷ XIX cộng lại”. Và lời chú thích năm 1994: “Bài thơ thật thà như một bút ký, chỉ có giấc mơ chập chờn giữa dòng thơ là ảo mà thôi” (Xem Toàn tập Phạm Tiến Duật, sđd, tr. 67).
Như vậy, câu chuyện trong bài thơ là hoàn toàn sự thật.
Ngày 5/8/1964, Mỹ ném bom miền bắc, mở rộng chiến tranh ra cả nước. Ngày 31/3/1968, Mỹ thực hiện ném bom hạn chế miền bắc, tập trung đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở vào (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh). Gọi là hạn chế là hạn chế về địa bàn, nhưng chúng lại gia tăng lượt đánh và số lượng bom đạn vào một vùng đất nhỏ hẹp nhằm cắt đứt hoàn toàn mọi con đường chi viện cho miền nam; đánh sập sức mạnh hậu phương và ý chí chiến đấu.
Trên QL1A, không còn cây cầu nào tồn tại; các đoạn đường bị băm nát thành ao. Tuyến vận tải chi viện cho chiến trường chuyển sang Đường 15 và các tuyến đường khác mới mở ven rừng Trường Sơn. Và ở Hà Tĩnh, đến lượt Đường 15 trở thành trọng điểm đánh phá, từ Phà Linh Cảm, Cầu Chợ Giấy, Ngã ba Lạc Thiện đến Cống 19, Cầu Cơn Bạng, Ngã ba Đồng Lộc, Truông Kén, Phà Địa Lợi…
Cụm trọng điểm Đồng Lộc bị đánh phá ác liệt nhất. Nói cụm trọng điểm vì nó gồm 7 điểm: Cống 19 - Ngầm Cơn Bạng - Ngầm Tùng Cốc - Cầu Tối - Ngã ba Đồng Lộc - Truông Kén - Ngã ba Nông trường Thạch Ngọc.
Để bảo đảm giao thông thông suốt trên đoạn đường này, Quân khu 4 và tỉnh Hà Tĩnh đã thành lập Ban Giải tỏa Đồng Lộc (K68) do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Quang Đạt làm Trưởng ban. Tham gia có 6 lực lượng: Phòng không (bộ đội và dân quân); Xây lắp (7 đại đội thanh niên xung phong (TNXP) của Tổng đội 55, bảo đảm giao thông và công binh); Lực lượng hậu cần (gồm các ngành lương thực, y tế, bưu điện, thương nghiệp…); Lực lượng điều hành vận tải, kho bãi (Binh trạm 9 Đoàn 559); Lực lượng an ninh, an toàn giao thông (công an); Lực lượng ứng cứu (nhân dân các xã của huyện Can Lộc). Lúc cao điểm có 16 nghìn người.
Bảy đại đội TNXP trải dài từ Cống 19 đến Thạch Ngọc.
3 Hàng mấy chục năm trời, tôi vẫn băn khoăn về nơi viết bài thơ “Gửi em cô thanh niên xung phong”. Nó ở đâu chứ không thể ở Đức Thọ vì ở Đức Thọ không có cảnh ấy. Cái câu day dứt nhất trong tôi là “Em đóng cọc rào quanh quanh hố bom” và hình ảnh pháo sáng đèn dù, sự tinh nghịch giữa bộ đội và TNXP. Đó là những điều tôi đã sống. Những chiếc cọc tre vót nhọn một đầu ấy, cùng những cành cây lá, tôi đã từng theo mẹ và các anh chị dân quân vác lên cống 19, ngay trong lúc bom đạn để đóng bên miệng hố bom, rấp lá, đắp đất để đất khỏi trôi xuống hố bom cho xe qua một cách nhanh chóng nhất. Máy không đủ sức thì cộng sức người đẩy để vượt qua trọng điểm. Nguy hiểm nhất là khi chúng thả pháo sáng. Sáng đến nỗi có thể thấy được cái kim trong đêm. Mỗi cử động dưới mặt đất đều bị kẻ thù trên bầu trời soi rõ. Lúc đó, bất cứ cái gì đáng nghi, bất cứ cái gì cử động đều hứng tên lửa, đạn đum đum (20 ly) hoặc bom sát thương. TNXP, dân quân và công nhân giao thông, bộ đội…, làm việc và hy sinh trong ác liệt như thế và cũng lãng mạn nhìn nhau trong ánh đèn dù như thế:
“Tranh thủ có ánh sáng đèn dù
Anh vội nhìn em và bạn em khắp lượt
Mọi người cũng tò mò nhìn anh
Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối.
Em ơi em, hãy nghe anh hỏi
Xong đoạn đường này các em làm đâu?”.
Năm 2018, Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Đồng Lộc và sự hy sinh của 10 cô gái Tiểu đội 4, Đại đội 552; tôi đã đi gặp các nhân chứng lịch sử để viết vở kịch “Khoảng trời con gái”.
Và tôi đã gặp chị Lê Thị Nhị, nguyên mẫu “cô gái Thạch Nhọn Thạch Kim” trong bài thơ. Bà Nhị sinh năm 1946, quê Thạch Kim, vào TNXP năm 1967, ra quân năm 1972. Bà chơi giỏi bóng chuyền, từng thi đậu vào Trường đại học Thể dục thể thao Từ Sơn nhưng sau phải bỏ để về chăm mẹ. Không biết có phải “tài mệnh tương đố” không nhưng cuộc đời bà có nhiều điều không may mắn. Bà sống cô đơn và bán hàng vặt ở chợ cảng cá Cửa Sót. Bà kể cho tôi nghe nhiều kỷ niệm của năm tháng chiến tranh và lần gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật trong một đêm ở Cống 19 xã Phú Lộc. Đêm ấy cũng như bao đêm khác là những cuộc gặp hối hả, vui nhộn, trêu đùa, hẹn hò rồi chia tay nhưng biết là khó lòng gặp lại giữa cánh lái xe Trường Sơn và TNXP. Hồi đó, bà chưa biết đến nhà thơ Phạm Tiến Duật và hai người cũng không có dịp gặp lại nhau sau chiến tranh, trừ lần cuối cùng vào cuối năm 2007 ở Hà Nội, trong Bệnh viện 108 trước lúc nhà thơ lâm chung. Lúc ấy, nhà thơ không còn nói được nữa, hai người chỉ kịp nắm tay nhau một lát rồi buông ra mãi mãi…
4 Câu chuyện, lời thoại trong bài thơ “Gửi em cô thanh niên xung phong” là hoàn toàn có thật. Có thật cả nhân vật. Nơi câu chuyện xảy ra là ở cung đường từ Ngã ba Đồng Lộc đến Cống 19, nhiều khả năng là vùng Cống 19, thuộc xã Phú Lộc, nay là xã Trường Lưu, Hà Tĩnh (ở cung đường này Phạm Tiến Duật còn có bài thơ Qua cầu Tùng Cốc).
Nơi hoàn thành bài thơ có thể là ở một chỗ dừng nghỉ tạm nào đó thuộc huyện Đức Thọ. Hoặc cũng có thể nhà thơ đã nhầm địa danh, vì từ Phú Lộc ra Đức Thọ chỉ 3 cây số. Đức Thọ lại là miền gái đẹp nên thường lăng líu trong trí nhớ và bước chân những anh bộ đội.
Có một chi tiết nữa là O Nhị (cô gái Thạch Nhọn) không phải mặc áo trắng. Có nhà phê bình còn nói là “áo pô-pơ-lin pha ni-lông” là không đúng. Vì hồi đó áo trắng bị cấm tuyệt đối và cũng không ai có pô-pơ-lin pha ni-lông. Đó chỉ là cái áo phin lơ (phin xanh, trông trắng hơn mọi người, trong đêm có màu sáng. Thơ cũng nói “Áo em hình như trắng nhất”.