Từ yêu cầu của thực tiễn, bên cạnh công tác gìn giữ, bảo tồn giá trị thì văn hóa cần được đầu tư và tạo cơ chế tự phát triển bằng sức bật đổi mới sáng tạo cùng năng lực thị trường dồi dào.
Bài 1: Tạo động lực từ Quỹ văn hóa, nghệ thuật
Theo Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam, Quốc hội cho phép thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật (Quỹ) từ Trung ương đến địa phương theo mô hình hợp tác công tư. Quỹ hoạt động như một quỹ đầu tư mạo hiểm, sử dụng ngân sách nhà nước cùng các nguồn lực hợp pháp khác để hỗ trợ các dự án đổi mới, khởi nghiệp văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và các sản phẩm nghệ thuật có giá trị.
Cơ chế mới được ban hành chấp nhận khả năng rủi ro theo nguyên tắc thị trường nhưng phải bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí vốn. Thời gian thực hiện thí điểm tối đa đến hết năm 2035. Đây là lần đầu một thiết chế tài chính mang tính “ươm mầm ý tưởng” được đặt ra rõ ràng trong một nghị quyết chuyên đề về phát triển văn hóa.
Nhiều năm qua, lĩnh vực văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam vẫn tồn tại một nghịch lý: Tài năng và ý tưởng sáng tạo thì rất phong phú nhưng thiếu nguồn lực để có thể đi đến cùng. Nếu dựa vào quy định sử dụng ngân sách nhà nước, nhiều dự án khó chứng minh hiệu quả kinh tế tức thời để được bố trí vốn. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân thường dè dặt trong vấn đề đầu tư bởi lĩnh vực văn hóa cần thời gian dài để tạo giá trị, lợi nhuận không nhanh và mức độ rủi ro cao.
Nhà thơ Phạm Thùy Vinh, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Nghệ An, Tổng Biên tập Tạp chí Sông Lam cho rằng, sự loay hoay kéo dài của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật xuất phát từ việc cả khu vực công lẫn khu vực tư đều chưa có cơ chế tài chính phù hợp cho hoạt động nghệ thuật. Mô hình quỹ hợp tác công tư mang ý nghĩa như một hình thức “đầu tư mạo hiểm” cho văn hóa, chấp nhận rủi ro để đổi lấy khả năng hình thành những giá trị mới cho xã hội.
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã sử dụng các quỹ văn hóa như một công cụ chiến lược để nuôi dưỡng tài năng và hình thành hệ sinh thái đổi mới. Hàn Quốc là thí dụ tiêu biểu. Quốc gia này đầu tư mạnh cho công nghiệp nội dung thông qua các quỹ hỗ trợ điện ảnh, âm nhạc và công nghệ giải trí, tạo nền tảng cho làn sóng Hallyu (làn sóng văn hóa Hàn Quốc) lan tỏa toàn cầu. Một số nước châu Âu cũng xây dựng các quỹ nghệ thuật theo mô hình nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp và cộng đồng để bảo vệ nghệ thuật hàn lâm, di sản truyền thống cũng như hỗ trợ các thử nghiệm nghệ thuật mới. Việc làm này giúp tạo nguồn vốn, song mục tiêu quan trọng hơn là hình thành một cơ chế đủ tin cậy để huy động xã hội cùng tham gia đầu tư cho văn hóa.
Tiến sĩ Nguyễn Huy Phòng (Hội đồng Lý luận Trung ương) cho rằng, trong điều kiện ngân sách dành cho văn hóa còn hạn chế, việc huy động nguồn lực từ Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và người làm văn hóa trong và ngoài nước cùng tham gia là yêu cầu cấp thiết. Không chỉ hỗ trợ vật chất, Quỹ còn tạo ra sự động viên tinh thần đối với nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, giúp họ yên tâm cống hiến và dấn thân.
Việc Quốc hội cho phép thí điểm Quỹ thay vì triển khai đồng loạt cũng cho thấy sự thận trọng cần thiết, bởi văn hóa là lĩnh vực đặc thù, không thể đo đếm hiệu quả bằng những chỉ số thông thường. Một bộ phim nghệ thuật có thể không đạt doanh thu lớn nhưng lại góp phần nâng vị thế điện ảnh quốc gia; một dự án bảo tồn nghệ thuật dân gian có thể chưa mang lại lợi ích kinh tế trước mắt nhưng giúp gìn giữ căn cốt văn hóa cho cộng đồng nhiều thế hệ. Nếu không có phương thức đánh giá phù hợp, rất dễ dẫn đến việc đầu tư dàn trải, hình thức; hoặc chỉ ưu tiên những dự án dễ sinh lời mà bỏ quên giá trị nền tảng.
Nhà nghiên cứu văn hóa, nhạc sĩ Nguyễn Quang Long, người sáng lập nhóm Xẩm Hà Thành cho biết, điều quan trọng nhất là cách vận hành Quỹ, từ khâu gây quỹ, điều hành, xét duyệt đến tài trợ phải minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục tiêu và bảo đảm công bằng. Đối tượng thụ hưởng không chỉ giới hạn ở các đơn vị công lập mà phải mở rộng tới các tổ chức, cá nhân có dự án khả thi và có giá trị xã hội. Ông đề xuất cần ưu tiên các dự án bảo tồn văn hóa nghệ thuật dân tộc, các thể nghiệm nghệ thuật giàu tính đột phá hoặc các nghiên cứu văn hóa cần thiết, tránh những dự án chạy theo xu hướng thương mại thuần túy. Mặt khác, một quỹ đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực văn hóa sẽ không thể vận hành bằng tư duy hành chính thông thường vì nếu việc xét duyệt nặng theo kiểu “xin-cho”, thiếu hội đồng chuyên môn độc lập hoặc thiếu công khai minh bạch, rất dễ dẫn tới tâm lý hoài nghi và làm giảm niềm tin xã hội. Hoạt động đổi mới nghệ thuật cần môi trường cạnh tranh lành mạnh, cần được đánh giá bằng giá trị thực tiễn của dự án.
Tuy nhiên, Quỹ không nên chỉ dừng ở việc “cấp tiền”. Dưới góc độ người làm quản lý, nhà thơ Phạm Thùy Vinh cho rằng hỗ trợ tài chính cần đi kèm đào tạo, truyền thông, quảng bá và tìm đầu ra cho sản phẩm văn hóa. Điều này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, chuyên gia truyền thông, nền tảng công nghệ và cả cộng đồng tiêu dùng văn hóa.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một quỹ văn hóa hiệu quả thường phải đáp ứng ba điều kiện căn bản: Cơ chế huy động vốn linh hoạt; hội đồng thẩm định chuyên môn độc lập; và hệ thống giám sát minh bạch. Việt Nam cũng cần tính tới các chính sách ưu đãi để khuyến khích doanh nghiệp đồng hành cùng văn hóa. Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Long đề xuất doanh nghiệp tài trợ cho Quỹ cần được ghi nhận, tôn vinh và có cơ chế miễn, giảm thuế phù hợp.
Tiến sĩ Nguyễn Huy Phòng cho rằng, cần sớm hoàn thiện quy chế hoạt động, cơ cấu tổ chức, cơ chế huy động vốn, quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Theo ông, Quỹ phải có tiêu chí đánh giá rõ ràng đối với các công trình đặt hàng, các dự án độc lập, hoạt động văn hóa ở vùng sâu, vùng xa hay các tác phẩm đỉnh cao. Đồng thời, ngăn chặn nguy cơ thương mại hóa hoặc lợi dụng Quỹ để phục vụ mục đích vụ lợi cá nhân. Nếu được vận hành minh bạch, chuyên nghiệp và đúng tinh thần khuyến khích đổi mới, Quỹ có thể trở thành đòn bẩy quan trọng để công nghiệp văn hóa Việt Nam bứt phá, đồng thời góp phần bồi đắp sức mạnh mềm và bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.
(Còn nữa)