Ứng dụng công nghệ trong giám sát, dự báo

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, trong đó hạn hán, thiếu nước ngày càng diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, sinh kế của người dân và an ninh nguồn nước.

Khô hạn kéo dài sẽ làm suy giảm nguồn nước. (Ảnh: QUANG NGUYỄN)
Khô hạn kéo dài sẽ làm suy giảm nguồn nước. (Ảnh: QUANG NGUYỄN)

Trước yêu cầu đó, việc ứng dụng ảnh viễn thám, trí tuệ nhân tạo đang mở ra hướng tiếp cận mới, giúp chuyển từ ứng phó bị động sang quản lý rủi ro hạn hán một cách chủ động, khoa học và kịp thời hơn.

Những đợt hạn hán nghiêm trọng trong các giai đoạn 2014- 2016, 2019-2020 và dự báo ảnh hưởng của El Niño 2026-2027 cho thấy, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động rõ rệt của tình trạng thiếu nước, suy giảm mực nước sông, hồ chứa và xâm nhập mặn. Không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt, hạn hán còn ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, nhất là tại các vùng thường xuyên thiếu nước như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Tùy theo biểu hiện và mức độ tác động, hạn hán có thể được phân thành các hạn khí tượng, thủy văn, nông nghiệp và kinh tế-xã hội. Trong đó, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp thường gây tác động trực tiếp đến điều tiết hồ chứa, sản xuất mùa vụ và đời sống dân cư.

Theo ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Khí tượng Thủy văn, mức độ tác động thực tế không chỉ phụ thuộc vào cường độ El Niño mà còn liên quan thời gian duy trì, trạng thái nguồn nước đầu mùa khô, khả năng tích nước và điều tiết hồ chứa, dòng chảy trên các lưu vực sông cũng như năng lực ứng phó của từng khu vực. Vì vậy, thông tin dự báo cần được cập nhật thường xuyên để phục vụ xây dựng phương án ứng phó từ sớm.

Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải chuyển mạnh từ cách tiếp cận “quản lý thiên tai” sang “quản lý rủi ro thiên tai” thông qua giám sát, dự báo, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định. Trên cơ sở nhận định khả năng nguồn nước, các cơ quan chuyên môn có thể tính toán diện tích gieo trồng phù hợp, điều chỉnh lịch thời vụ, lựa chọn cơ cấu cây trồng và xây dựng phương án cấp nước, vận hành hồ chứa. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương chủ động chỉ đạo sản xuất, hạn chế thiệt hại do hạn hán và thiếu nước.

Điểm đáng chú ý trong hướng tiếp cận hiện nay là việc kết hợp nhiều nguồn dữ liệu và công nghệ khác nhau, từ mô hình khí hậu toàn cầu, mô hình khí hậu vùng, dữ liệu mưa toàn cầu, ảnh viễn thám của các tổ chức quốc tế như ESA, NASA, JAXA, NOAA đến các chỉ số phục vụ theo dõi, đánh giá hạn hán như SPI, PDSI, NDVI.

Một trong những công cụ quan trọng là hệ thống đánh giá cực hạn thủy văn vùng RHEAS, do Phòng thí nghiệm Sức đẩy phản lực của NASA (Mỹ) phát triển và được Trung tâm Phòng tránh rủi ro thiên tai châu Á chuyển giao cho Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Trên nền tảng này, nhiều chỉ số và thông số liên quan hạn hán được khai thác, như các chỉ số hạn tổng hợp, mưa chuẩn hóa, dòng chảy chuẩn hóa; các độ thiếu hụt ẩm đất, nghiêm trọng hạn, ẩm vùng rễ; các dòng chảy mặt, chảy ngầm; bốc thoát hơi tiềm năng, lượng mưa, độ ẩm tương đối và nhiệt độ bề mặt.

Những nguồn dữ liệu này cho phép xây dựng bản đồ hạn hán, bản tin dự báo hạn theo tháng, hệ thống kiểm kê và dự báo nguồn nước, hệ thống giám sát hồ chứa bằng ảnh vệ tinh cũng như các công cụ hỗ trợ vận hành hồ chứa. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào quan trắc thủ công hoặc báo cáo định kỳ, cơ quan quản lý có thể theo dõi diễn biến nguồn nước gần hơn với thời gian thực, từ đó đưa ra quyết định sớm hơn và sát thực tế hơn.

Đối với sản xuất nông nghiệp, hệ thống hỗ trợ ra quyết định có thể cung cấp thông tin về khả năng nguồn nước, dự báo năng suất cây trồng, diện tích có thể gieo trồng và mức độ rủi ro hạn hán theo từng khu vực. Ở góc độ quản lý hồ chứa, ảnh vệ tinh giúp giám sát biến động dung tích và mực nước, hỗ trợ đánh giá khả năng cấp nước cho hạ du. Khi kết hợp với mô hình dự báo thời tiết, dự báo mùa ngắn hạn và dự báo mùa, hệ thống có thể cung cấp các kịch bản vận hành linh hoạt hơn, vừa bảo đảm cấp nước sinh hoạt, sản xuất, vừa góp phần giảm rủi ro trong điều kiện thời tiết cực đoan.

Dù tiềm năng ứng dụng rất lớn, việc giám sát và dự báo hạn hán bằng công nghệ số vẫn còn không ít thách thức. Nhiều công cụ, hệ thống và thiết bị được phát triển riêng lẻ, chưa được tích hợp đồng bộ, phần lớn vẫn ở mức thí điểm. Cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý nguồn nước, thiên tai, sản xuất nông nghiệp và vận hành hồ chứa còn phân tán, chưa hình thành được nền tảng dùng chung đủ mạnh. Khi áp dụng trên quy mô vùng hoặc quốc gia, lượng dữ liệu trao đổi theo thời gian thực sẽ rất lớn, trong khi hạ tầng mạng, năng lực lưu trữ, xử lý và phân tích dữ liệu lớn còn hạn chế. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực về công nghệ thông tin, quản trị mạng, phân tích dữ liệu và vận hành các mô hình dự báo vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.

Từ thực tế này, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hà Hải Dương, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, cần phải xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định về kiểm kê nguồn nước và dự báo năng suất cây trồng trên các lưu vực sông chính; hình thành bộ cơ sở dữ liệu về nguồn nước sẵn có phục vụ cấp nước cộng đồng; xây dựng cơ sở dữ liệu về định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp điều kiện nguồn nước.

Cùng với đó, cần xây dựng bộ cơ sở dữ liệu và bản đồ số về rủi ro an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập; hoàn thiện hệ thống bản đồ rủi ro thiên tai và hệ thống cảnh báo sớm. Các vùng ưu tiên gồm Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền núi phía bắc - những khu vực có mức độ nhạy cảm cao trước hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và biến động khí hậu. Về lâu dài, giám sát và dự báo nguồn nước không chỉ phục vụ ứng phó hạn hán, mà còn là nền tảng quan trọng cho quản lý tài nguyên nước, quy hoạch sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an toàn hồ đập và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Có thể bạn quan tâm

EU chính thức triển khai dự án IRIS². (Ảnh: TELECOM REVIEW EUROPE)

EU củng cố chủ quyền số

Việc Ủy ban châu Âu (EC) vừa chính thức ký thỏa thuận triển khai chòm sao vệ tinh IRIS² với liên danh SpaceRISE đánh dấu một cột mốc lịch sử đối với không gian số và địa chính trị của Liên minh châu Âu (EU). Dự án là bước đi quan trọng nhất của EU trong thập niên này nhằm thiết lập tự chủ chiến lược và bảo vệ chủ quyền số.

Bên trong Văn phòng phần cứng Google tại Đài Loan (Trung Quốc). (Ảnh: Google)

Trải nghiệm có trách nhiệm với những công nghệ “tỷ đô”

Tháng 8/2026 đánh dấu một cột mốc mang tính biểu tượng trong lịch sử công nghệ thông tin toàn cầu. Trí tuệ nhân tạo (AI) đã chính thức trở thành một phần thiết yếu của đời sống con người với những con số biết nói và những thách thức an ninh chưa từng có.

Giới thiệu thiết bị công nghệ của các startup tại sự kiện Demo Day 2026. (Ảnh: VIỆT LAN)

Tạo không gian thử nghiệm cho đổi mới sáng tạo

Từ phát triển sản phẩm mẫu, thử nghiệm trong môi trường thực tế đến kết nối thị trường, một số chương trình và chính sách hỗ trợ khởi nghiệp đang chú trọng hơn tới khâu kiểm chứng công nghệ. Điều này đặt ra yêu cầu hình thành những không gian giúp ý tưởng được thử nghiệm, hoàn thiện và từng bước đi vào thực tiễn.

Phiên thảo luận “Giải pháp tăng cường bảo vệ người dùng trên không gian mạng”.

Cảnh báo về an ninh nhận thức với người dùng mạng xã hội

Thượng tá Triệu Mạnh Tùng, Phó Cục trưởng Cục A05, Bộ Công an đề cập đến khái niệm bảo vệ "an ninh nhận thức", đồng thời cảnh báo nguy cơ người dùng bị các nền tảng xã hội "trói" trong vòng điều hướng thông tin của các thuật toán, từ đó tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi.

Tổ hợp robot logistics thông minh và camera giám sát lái xe ứng dụng AI đến từ Viettel Post. (Ảnh: Viettel cung cấp)

Viettel đứng số một thế giới tại Giải thưởng kinh doanh quốc tế danh giá IBA 2026

Vượt qua hàng nghìn tổ chức đến từ 78 quốc gia, vùng lãnh thổ, với 17 giải Vàng, 8 giải Bạc và 3 giải Đồng, Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội Viettel là doanh nghiệp giành nhiều giải thưởng nhất tại International Business Awards 2026 (IBA 2026), trong đó riêng giải Vàng gần gấp đôi số lượng đơn vị xếp thứ hai.

Trung tướng Vũ Ngọc Thiềm, Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ phát biểu khai mạc hội thảo. (Ảnh: TRÀ MY)

AI4CRIS 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI an toàn trong mật mã và an toàn thông tin

Trí tuệ nhân tạo đang mở rộng khả năng phát hiện, cảnh báo và ứng phó nguy cơ an ninh mạng, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về dữ liệu, năng lực tính toán, nhân lực và quản trị an toàn. Đây là trọng tâm của Hội thảo khoa học quốc gia “Trí tuệ nhân tạo cho mật mã và an toàn thông tin” (AI4CRIS 2026) diễn ra ngày 14/8 tại Hà Nội.

Kỹ thuật viên VNPT khảo sát nhu cầu sử dụng Internet của từng gia đình và tư vấn giải pháp phù hợp. (Ảnh: VNPT)

Xóa những “điểm mù” trong ngôi nhà hiện đại

Một căn nhà có thể vẫn có Internet, có WiFi nhưng chưa chắc mọi không gian đều được kết nối và kiểm soát như gia chủ mong muốn. Có nơi WiFi yếu khi ở cuối hành lang, tín hiệu chập chờn ở tầng trên. Những bất tiện này thường không đủ lớn để người dùng lập tức thay đổi hệ thống, nhưng lại dễ xuất hiện đúng lúc cần kết nối nhất.

BiboWatch là sự kết hợp giữa đồng hồ thông minh đeo tay và SIM điện thoại tích hợp dữ liệu di động. (Ảnh: VNPT)

Làm sao để luôn biết con an toàn khi không ở bên?

Xã hội hiện đại tạo cho trẻ nhiều cơ hội học tập, vui chơi và khám phá, nhưng cũng đặt ra không ít mối quan tâm đối với cha mẹ. Khi con bắt đầu tự đến trường, tham gia các lớp học ngoại khóa hay vui chơi cùng bạn bè, điều phụ huynh mong muốn nhất là biết con đang ở đâu, an toàn hay không và có thể kết nối với con bất cứ lúc nào.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: ITPC)

Ba điểm nghẽn cản trở doanh nghiệp ứng dụng AI

Mặc dù làn sóng AI đang thúc đẩy cuộc đua đầu tư công nghệ mạnh mẽ nhưng phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa thể chuyển hóa lợi thế này thành kết quả thực chất. Nguyên nhân do vướng ba điểm nghẽn: dữ liệu phân mảnh trên nhiều hệ thống, thông tin thiếu chuẩn xác, sự mất kết nối giữa khâu phân tích và thực thi hành động.

Lễ ký kết giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long và MobiFone Vĩnh Long. (Ảnh: BÁ DŨNG)

Mặt trận truyền thông số ở Vĩnh Long

Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc trong công cuộc chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, đưa công nghệ số phục vụ đời sống nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long đã chủ động tiên phong, đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại lễ ký kết. (Ảnh: FPT)

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Hợp tác quốc tế giúp Việt Nam chủ động tham gia chuỗi giá trị trí tuệ nhân tạo toàn cầu

FPT và Mila - Viện nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (AI) hàng đầu thế giới vừa ký kết hợp tác nghiên cứu, đào tạo nhân lực và chuyển giao tri thức. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng kỳ vọng hợp tác góp phần tạo giải pháp thiết thực, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và định hình quy chuẩn quản trị AI toàn cầu.

Đại diện Viện VPI và Beicip-Franlab Asia ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí. (Ảnh: VPI)

Tăng cường hợp tác nghiên cứu công nghệ trong thăm dò, khai thác dầu khí

Ngày 13/8, tại Hà Nội, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) thuộc Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Beicip Technology Solutions Sdn. Bhd. (Beicip-Franlab Asia) đã ký kết Biên bản ghi nhớ tăng cường hợp tác trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí.

PILA (Việt Nam) ký kết hợp tác chiến lược cùng TOTM Technologies (Singapore). (Ảnh: NGỌC ANH)

Thúc đẩy hạ tầng niềm tin số xuyên biên giới trong khu vực ASEAN

Trong tiến trình chuyển dịch sang môi trường số, việc xác thực danh tính, chứng từ và dữ liệu đã trở thành điều kiện tiên quyết nhằm thúc đẩy thương mại xuyên biên giới. Bên cạnh hạ tầng kết nối và hạ tầng dữ liệu, các giao dịch số đòi hỏi một cơ chế kiểm chứng độc lập, nhanh chóng và bảo đảm tính tin cậy giữa các bên.

Các đại diện hai bên Việt Nam-Nhật Bản ký kết các biên bản ghi nhớ hợp tác tại diễn đàn. (Ảnh: MINH ĐỨC)

Đưa hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong đổi mới sáng tạo ngày càng đi vào chiều sâu, kiến tạo các giá trị mới

Các nhà quản lý, các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, trường đại học và đại biểu tham dự diễn đàn đều bày tỏ tin tưởng, hợp tác Việt Nam-Nhật Bản trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, từ kết nối sang hợp tác, từ hợp tác sang cùng phát triển và cùng tạo ra những giá trị mới.