Từ “Odyssey” nghĩ về dòng phim cổ trang Việt Nam

Nếu hè này bạn đã ra rạp để theo Christopher Nolan bước vào The Odyssey, một câu chuyện 3.000 năm tuổi về biển cả, chiến tranh và những con người nhỏ bé trước thiên nhiên trên một hành trình không ai biết chắc mình có thể trở về thì “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” giúp ta bước vào một câu chuyện của chính đất Việt từ hơn nghìn năm trước.

Không phải vì hai bộ phim giống nhau. Mà bởi sau 3.000 năm, chúng ta vẫn muốn nhìn Odysseus lên đường vì những cuộc trường hành lớn chưa bao giờ chỉ nói về đích đến; chúng nói về con người khi bị đặt trước một điều lớn hơn chính mình. Chỉ có điều, những “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” thời Vua Đinh bước vào hành trình của họ với một sự thật khắc nghiệt hơn: họ không đi để tìm đường trở về. Ngay từ lúc lên đường, họ đã biết cái chết đang đợi ở cuối con đường. Và chính vì biết mà vẫn đi, câu chuyện ấy mới có sức nặng của một lời thề.

Vì vậy, nếu bạn vẫn chưa xem “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh”, đừng để bất kỳ ai kể cả tôi xem hộ bạn. Hãy vào rạp và có thể khi ấy bạn sẽ hiểu điều tôi đã nghĩ lúc bước ra khỏi rạp: người Hy Lạp đã kể đi kể lại những trường ca của họ suốt hàng nghìn năm. Việt Nam cũng có những câu chuyện xứng đáng được kể quy mô như thế. Trường ca Việt Nam mới chỉ bắt đầu.

Tôi đi xem “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” cùng gia đình và có một khoảnh khắc trong phim mà đến giờ tôi vẫn nhớ rất rõ. Những cỗ quan tài đang đi qua núi Ninh Bình. Máy quay ở đủ xa để con người trở nên nhỏ bé, gần như bị nuốt vào giữa đá, cây, trời và những con đường quanh co. Nếu tắt âm thanh ở khoảnh khắc ấy, thậm chí nếu không biết gì về nhà Đinh, người xem vẫn có thể hiểu một điều rất căn bản: những con người này đang mang một thứ gì đó lớn hơn chính sinh mạng của họ.

Có những hình ảnh cần rất nhiều lời để giải thích. Cũng có những hình ảnh chỉ cần xuất hiện đúng kích thước của nó là người xem hiểu bằng bản năng. Với tôi, “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” bắt đầu thực sự trở thành điện ảnh ở những khoảnh khắc như thế.

ho-linh-trang-si-review-4-1788-2689-2757.jpg
Một cảnh tái hiện văn hóa xưa trong “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh”. (Ảnh đoàn làm phim cung cấp)

Có lẽ cũng vì Christopher Nolan vừa đưa Odyssey trở lại màn ảnh lớn mà tôi nghĩ nhiều đến chữ “trường ca” khi xem bộ phim này. Homer có Odysseus lênh đênh giữa biển, đi qua chiến tranh, quái vật, cám dỗ và mất mát để tìm đường trở về nhà. “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” có một cuộc trường hành khác, nhỏ hơn về khoảng cách địa lý nhưng không hề nhỏ trong ý niệm: một vị vua đã chết, chín mươi chín cỗ quan tài được đưa về những hướng khác nhau, một bí mật phải biến mất khỏi thế gian, và những người còn sống phải đi đến tận cùng con đường để bảo vệ điều ấy. Nolan có biển Địa Trung Hải và huyền thoại Hy Lạp.

Nguyễn Phan Quang Bình có núi đá Hoa Lư, nhà Đinh, một ngôi mộ bí ẩn và một câu chuyện sinh ra ngay từ đất Việt. Điều làm tôi thích thú không phải là tìm xem hai bộ phim giống nhau ở đâu, mà là nhận ra rằng mỗi nền văn hóa đều có quyền lấy lịch sử và huyền thoại của mình, đặt nó lên một màn ảnh đủ lớn và nói với khán giả: đây là những câu chuyện đã tạo nên trí tưởng tượng của con người nơi đây.

Điện ảnh Mỹ và châu Âu đã làm việc ấy từ rất lâu. David Lean có Lawrence of Arabia, nơi sa mạc không phải cảnh nền mà là thước đo của con người. Ridley Scott có Gladiator, nơi sự hùng vĩ của La Mã chỉ thực sự có nghĩa vì ở giữa tất cả những đấu trường, quân đoàn và hoàng đế ấy vẫn là một người đàn ông nhớ vợ con và muốn trở về nhà.

Akira Kurosawa có Seven Samurai, một câu chuyện tưởng rất đơn giản về bảy võ sĩ bảo vệ một ngôi làng, nhưng từ đó dựng nên cả một thế giới về danh dự, nỗi sợ, nghĩa vụ và sự hy sinh. Trong Ran, những đoàn quân nhỏ đến đau lòng khi được đặt giữa những ngọn đồi rộng lớn; chính vẻ đẹp của cảnh vật làm sự tự hủy của con người trở nên bi thảm hơn.

The Last Samurai lại hiểu rằng muốn người xem tin vào một nền văn hóa chiến binh, không thể chỉ cho họ xem kiếm và áo giáp; phải cho họ thấy cách một người đứng, cúi đầu, cầm kiếm, chờ đợi trước một trận đánh, và hiểu cái chết của mình có nghĩa gì.

Những bộ phim ấy rất khác nhau, nhưng chúng cùng hiểu một điều: cái lớn lao trên màn ảnh đến từ việc khiến một đời người bỗng trở nên nhỏ bé trước lịch sử mà vẫn đủ quan trọng để ta đau khi đời người ấy mất đi.

ho-linh-trang-si-review-3-1788-9939-2590.jpg
Phim Hộ linh tráng sĩ được quay tại Ninh Bình, với bối cảnh chính là núi rừng Hoa Lư. (Ảnh đoàn làm phim cung cấp)

Đó chính là điều khiến tôi bị cuốn vào ý tưởng trung tâm của “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh”. Chín mươi chín cỗ quan tài là một ý tưởng điện ảnh tuyệt đẹp vì nó vừa dễ hiểu vừa kỳ lạ. Một cỗ quan tài thật được bảo vệ bằng chín mươi tám cỗ quan tài khác. Sự thật được bảo vệ bằng những dấu vết giả. Muốn giấu một nơi, người ta tạo ra thật nhiều nơi để tìm. Muốn một người chết được yên nghỉ, rất nhiều người sống phải bước vào hiểm nguy. Và nếu những tráng sĩ hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt đối, phần thưởng cuối cùng của họ thậm chí có thể là việc chẳng ai đời sau biết họ từng tồn tại.

Tôi thấy ở đó một quan niệm về người anh hùng đẹp hơn rất nhiều hình ảnh người chiến thắng đứng trên đỉnh cao. Một người có thể làm một việc lớn mà không mong tên mình được giữ lại. Một người có thể chết mà không cần biết hậu thế sẽ ca ngợi mình. Một người có thể đứng lại ở một cây cầu, một con đường, một khe núi để người khác đi tiếp, rồi biến mất khỏi lịch sử. Những người làm nên lịch sử không phải lúc nào cũng là những người được lịch sử ghi tên.

Bởi vậy, càng xem tôi càng thấy hai chữ “hộ linh” hay. Ban đầu ta có thể hiểu đó là bảo vệ linh cữu của một vị vua. Nhưng dần dần, cái được bảo vệ trở nên rộng hơn một thi hài.

Đó là ký ức, là lòng trung thành, là niềm tin của một nhóm người vào điều họ cho rằng phải được giữ lại sau khi mình chết. Một vị vua nằm yên nhưng cả thế giới người sống chuyển động quanh ông. Người chạy, người đuổi, người đánh, người yêu, người lựa chọn, người hy sinh. Cái chết không kết thúc câu chuyện mà khởi động nó.

Có những lúc tôi nghĩ “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” thực chất không phải phim về một ngôi mộ bí mật. Nó là phim về những gì một con người có thể để lại sau khi cơ thể của họ đã không còn nữa, và về những người khác sẵn sàng mang di sản ấy đi xa đến đâu.

Nhưng điều khiến những ý niệm ấy hiện lên được trên màn ảnh chính là Ninh Bình. Tôi đã đến Ninh Bình, đã nhìn thấy Tràng An, Hoa Lư và những khối núi đá ấy ngoài đời, vậy mà trong phim có lúc tôi lại thấy chúng xa lạ như đang nhìn một vùng đất khác. Đó là một lời khen rất lớn dành cho người quay phim.

Một cảnh quan nổi tiếng thường rất khó quay bởi khán giả đã nhìn thấy nó trên quá nhiều tấm ảnh. Muốn làm nó sống lại, máy quay phải tìm thấy trong cảnh vật một ý nghĩa mới. Ở đây, núi không được dùng để khoe Việt Nam đẹp. Núi che giấu, đe dọa, bảo vệ, chia cắt. Hang động có thể nuốt con người vào bóng tối. Một cây cầu có thể trở thành nơi quyết định ai sống ai chết. Một dòng nước có thể cản bước. Một con đường hẹp có thể khiến số đông mất lợi thế. Địa hình không nằm phía sau câu chuyện; địa hình tham gia vào câu chuyện.

Đây là điểm làm tôi nhớ đến Lawrence of Arabia. Người ta thường nhớ bộ phim ấy vì sa mạc đẹp, nhưng vẻ đẹp không phải lý do David Lean cần sa mạc. Ông cần khoảng trống mênh mông ấy để làm Lawrence trở nên vừa lớn vừa nhỏ: lớn trong tham vọng của mình, nhỏ bé trước thiên nhiên và lịch sử. “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” có những lúc tìm thấy được tỷ lệ tương tự.

Một phút trước nhân vật còn nói về sự sống, cái chết, tình yêu hay bổn phận; phút sau máy quay lùi lại và họ chỉ còn là vài bóng người bên dưới một khối núi đã tồn tại hàng triệu năm. Đột nhiên mọi tham vọng của con người trở nên mong manh. Một vị vua có thể thống nhất giang sơn rồi mất. Một triều đại có thể bắt đầu và kết thúc. Một chiến binh có thể chết trước khi mặt trời lặn. Núi vẫn còn. Hơn một nghìn năm sau, những ngọn núi ấy vẫn ở đó và chúng ta vẫn đang nhìn chúng. Không cần ai nói “non sông còn mãi”, hình ảnh đã nói hộ.

Đấy cũng là lý do tôi rất muốn người chưa xem “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” xem nó ở rạp. Roger Ebert từng viết về Lawrence of Arabia rằng có một cảnh người xem phải nhìn rất lâu vào đường chân trời để một chấm nhỏ dần trở thành một con người; trên màn ảnh nhỏ, sức mạnh của cảnh ấy gần như biến mất.

Tôi nghĩ đến điều này khi nhìn người và quan tài giữa núi Ninh Bình. Sự chênh lệch về kích thước là một phần của câu chuyện. Nếu núi chỉ còn cao mười phân trên màn hình, con người không còn nhỏ bé theo cùng một cách. Nếu tiếng trống chỉ phát ra từ chiếc loa điện thoại, nó không còn đi qua cơ thể người xem. Có những bộ phim ta chỉ cần biết câu chuyện. Có những bộ phim cần được trải qua bằng mắt và tai ở đúng tầm vóc mà chúng được làm ra.

Phần võ thuật càng củng cố cảm giác ấy. Nếu Seven Samurai đã trở thành một chuẩn mực bởi Kurosawa hiểu rằng trận đánh phải có bùn, mưa, sự mệt mỏi và hỗn loạn của cơ thể thật, thì điều tôi thích ở những trường đoạn chiến đấu của “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” cũng chính là cảm giác vật chất ấy.

Thanh kiếm có vẻ nặng. Người bị đánh có vẻ đau. Cơ thể không phải thứ có thể ngã xuống rồi lập tức trở lại nguyên vẹn. Johnny Trí Nguyễn hiểu một nguyên tắc mà những bộ phim hành động hay nhất đều hiểu: người xem không cần biết động tác khó đến đâu; người xem cần tin rằng nó vừa xảy ra. Khi một diễn viên ra đòn mà ta chỉ nghĩ “đẹp”, ta đang nhìn biểu diễn. Khi một diễn viên ra đòn và ta vô thức co người lại, ta đang ở trong trận đánh.

Điều đáng giá hơn là những trận đánh ở đây có không gian. Ta biết cây cầu ở đâu, mép đá ở đâu, người nào đang chặn đường nào, vì sao một người phải đứng lại và điều gì sẽ xảy ra nếu người ấy lùi thêm vài bước. Những phim kiếm hiệp kém thường quay chiến đấu như một điệu múa trong khoảng không vô tận; người có thể bay từ chỗ này sang chỗ khác mà không gian chẳng có hậu quả gì. “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” thường làm điều ngược lại. Cây, đá, nước, cầu, sườn núi đều có thể giúp người này và giết người kia.

Chính vì vậy, trận đánh không chỉ cho ta xem kỹ thuật mà nó kể chuyện giúp ta biết ai đang bảo vệ ai, ai cần đi tiếp, ai phải ở lại. Và khi biết điều ấy, mỗi cú đánh đều có lý do.

Chúng ta thường nhìn người xưa từ phía sau: biết họ đã chết ra sao, biết triều đại kết thúc thế nào, biết ai sẽ thắng. Vì biết kết cục, ta vô tình biến họ thành những con người dường như sinh ra đã biết số phận. Nhưng không ai sống như thế. Họ cũng thức dậy mỗi sáng mà không biết chuyện gì sẽ xảy ra buổi tối. Họ yêu, giận, do dự, sợ và muốn giữ những thứ riêng cho mình. Một nhân vật chỉ thực sự có thể hy sinh khi trước hết ta tin rằng anh ta có một đời sống đáng để không hy sinh.

Nếu The Odyssey có Penelope như một cực của câu chuyện về chờ đợi và trở về, nếu Gladiator khiến ký ức về vợ con trở thành thứ giữ phần người lại trong Maximus giữa đấu trường, thì “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” cho mối quan hệ của Nguyên Phong và An Nhiên một phẩm chất khác: hai con người cùng bị dòng chảy lớn hơn đời mình kéo vào, và tình cảm chỉ có ý nghĩa bởi cả hai đều có lựa chọn của riêng mình.

Một bộ phim lịch sử còn sống hay chết ở đồ vật. Điều này có vẻ rất nhỏ cho đến khi một thanh kiếm quá nhẹ làm cả thế kỷ thứ mười biến mất. Khán giả rất nhạy với cái giả, dù đôi khi họ không gọi tên được. Một bộ giáp vừa mặc lên đã nhìn như trang phục biểu diễn; một căn phòng chưa bao giờ có ai sống; một thanh kiếm không có sức nặng, chỉ cần vài chi tiết như thế là ta lập tức thấy trường quay thay vì thấy quá khứ.

Trong “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh”, tôi thích cảm giác gỗ, đá, vải, kim loại cùng thuộc về một thế giới. Giáp làm thay đổi cách người mặc di chuyển. Vũ khí có vẻ đã được cầm nhiều hơn một lần. Quần áo tồn tại trên cơ thể thay vì chỉ trang trí cho cơ thể. Khi công việc mỹ thuật làm tốt đến mức người xem ngừng nhận xét “mỹ thuật đẹp”, đó mới là lúc thế giới thực sự hình thành.

Và có một việc khó hơn nhiều mà tôi nghĩ “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” đã làm được: tìm hình dáng của quá khứ Việt Nam trên màn ảnh. Chúng ta đã quá quen với việc nhận ra một võ sĩ Nhật chỉ qua dáng đứng, một triều đình Trung Hoa chỉ qua đường nét kiến trúc, một thế giới cổ trang Hàn Quốc chỉ qua màu sắc và phục sức. Nhưng hình hài của quá khứ Việt Nam trên màn ảnh là gì? Một chiến binh thế kỷ thứ mười phải đứng thế nào, cầm binh khí ra sao, bước qua thứ ánh sáng nào, giữa màu đất, tiếng trống và dáng núi nào để người xem không cần ai giải thích vẫn biết: đây là Việt Nam.

Có lẽ câu trả lời không nằm trong một khuôn mẫu có sẵn. Nó phải được tìm ra từng chút một, qua từng bộ phim, từng khuôn hình, cho đến một ngày chúng ta nhìn lên màn ảnh và nhận ra ngay quá khứ của chính mình.

Âm nhạc được truyền tải giúp bộ phim tiến rất xa theo hướng đó. Đặc biệt là tiếng trống. Có những âm thanh đi vào tai rồi mới đến cảm xúc; tiếng trống thường đi thẳng vào cơ thể. Nó có thể là nhịp tim, bước chân, lời gọi quân, nghi lễ hay điềm báo.

Khi nó vang trong một không gian núi đá lớn, tôi không có cảm giác bộ phim đang cố “thêm chất Việt”. Tôi có cảm giác âm thanh ấy vốn thuộc về thế giới đang hiện ra. Bản sắc hay nhất không phải thứ người làm phim chỉ tay vào và bảo ta phải chú ý. Nó là thứ thấm vào hình ảnh và âm thanh đến mức ta cảm nhận trước khi kịp gọi tên.

Có lẽ vì từng làm tại Netflix, tôi luôn có một câu hỏi trong đầu khi nhìn một câu chuyện của một quốc gia: điều gì trong câu chuyện này không ai khác có thể làm thay họ? Những năm làm việc trong ngành sản xuất phim quốc tế khiến tôi càng ngày càng tin rằng một câu chuyện đi ra thế giới không nhất thiết phải trở nên giống thế giới hơn. Nhiều khi nó phải trở thành chính nó hơn nữa. Khán giả quốc tế không cần Việt Nam làm một phim Mỹ bằng tiếng Việt.

Điện ảnh Mỹ đã làm phim Mỹ rất giỏi. Điều mà một người ở Paris, Seoul, London hay California chưa có là Hoa Lư, nhà Đinh, những ngọn núi Ninh Bình, chín mươi chín cỗ quan tài và những con người sẵn sàng mang một bí mật đi vào cái chết.

Christopher Nolan có thể lấy một trường ca gần ba nghìn năm tuổi của Hy Lạp, đặt nó trở lại trước hàng triệu khán giả năm 2026 và khiến họ muốn nhìn Odysseus lên đường một lần nữa. Điều ấy không xảy ra vì khán giả năm 2026 bỗng phải lòng môn cổ sử Hy Lạp.

Nó xảy ra vì những câu hỏi nằm bên trong câu chuyện vẫn còn sống: một con người trở về nhà bằng cách nào sau chiến tranh; anh ta còn là người cũ hay không; những lựa chọn trên đường đi đã biến đổi anh ra sao; có những thứ gì đáng để trải qua cả một cuộc đời mới trở lại được với nó. Một trường ca tồn tại hàng nghìn năm không phải vì người ta nhớ từng chi tiết. Nó tồn tại vì mỗi thế hệ nhìn vào đó lại nhận ra chính mình.

Và chính điều ấy khiến tôi nhìn khác vào kho lịch sử Việt Nam. Chúng ta có những câu chuyện lớn đến mức nếu chúng thuộc về một nền điện ảnh khác, có lẽ chúng đã được kể đi kể lại hàng chục lần. Đinh Bộ Lĩnh từ đứa trẻ cờ lau đến người thống nhất giang sơn. Dương Vân Nga đứng giữa hai triều đại. Lý Công Uẩn và cuộc dời đô. Lý Thường Kiệt. Trần Thủ Độ. Những năm tháng nhà Trần đứng trước một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Trần Hưng Đạo. Bạch Đằng. Trần Nhân Tông. Lê Lợi. Nguyễn Trãi. Tây Sơn. Quang Trung. Bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu lựa chọn, bao nhiêu tình yêu, phản bội, mưu lược, chiến tranh, gia đình, quyền lực và mất mát nằm trong đó? Chúng ta không thiếu chuyện để kể. Có lẽ điều chúng ta thiếu lâu nay là niềm tin rằng những câu chuyện ấy xứng đáng được kể với quy mô của một “Odyssey đất Việt”.

Vì thế, điều “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” để lại trong tôi mạnh nhất không phải là cảm giác vừa xem xong một bộ phim. Đó là cảm giác vừa nhìn thấy một cánh cửa. Sau cánh cửa ấy, tôi thấy Bạch Đằng. Tôi thấy nhà Trần. Tôi thấy một câu chuyện về Dương Vân Nga. Tôi thấy Nguyễn Trãi. Tôi thấy Quang Trung. Tôi thấy những câu chuyện về những người không có tên. Và tôi muốn xem tất cả những bộ phim ấy.

Có lẽ đây cũng là lúc khán giả trở thành một phần của câu chuyện theo cách ít ai để ý. Không phải vì một tấm vé mang ý nghĩa lớn lao nào đó, mà bởi những gì chúng ta chọn xem hôm nay sẽ âm thầm quyết định những gì còn có cơ hội được làm ngày mai.

Mỗi bộ phim như “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” đều để lại một dấu vết: một cách quay, một cách dựng thế giới, một lớp diễn viên, võ thuật, phục trang, âm nhạc, một niềm tin rằng lịch sử Việt Nam có thể hiện lên trên màn ảnh với tầm vóc riêng. Người khác có thể kể cho bạn họ nhìn thấy gì. Họ không thể nhìn thay mắt bạn. Họ có thể nói họ cảm thấy gì. Họ không thể cảm thấy thay bạn. Khán giả chỉ cần làm một việc rất đơn giản là ra rạp và nhìn thấy nó bằng chính mắt mình. Phần còn lại, thời gian sẽ trả lời.

Hãy đi cùng người thân, như tôi đã đi cùng gia đình: ngồi vào bóng tối, chờ tiếng trống đầu tiên, nhìn những ngọn núi mở ra, nhìn một đoàn người xuất hiện giữa một vùng đất lớn hơn họ rất nhiều, nhìn chín mươi chín cỗ quan tài bắt đầu đi về những hướng khác nhau và thử tự hỏi mình sẽ làm gì nếu biết con đường phía trước có thể không có đường trở về, rồi tự quyết định bộ phim có chạm vào mình hay không. Tôi nghĩ đó mới là mối quan hệ công bằng giữa một bộ phim và khán giả.

Tôi sẽ không nói với ai rằng phải yêu “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” vì đây là phim Việt Nam. Tôi muốn một điều tham vọng hơn thế. Tôi muốn người Việt đến xem nó vì họ tò mò muốn biết khi lịch sử của chính mình được nhìn bằng một tầm vóc khác, nó sẽ hiện ra thế nào. Tôi muốn những gia đình ra khỏi rạp rồi tranh luận xem đâu là sử, đâu là huyền thoại. Tôi muốn trẻ con hỏi cha mẹ vua Đinh là ai. Tôi muốn một người đã đến Ninh Bình mười lần bỗng muốn quay lại lần thứ mười một bởi từ nay những ngọn núi ấy đã chứa thêm một câu chuyện trong trí tưởng tượng của họ.

Và tôi muốn một ngày nào đó, khi một bộ phim Việt Nam được chiếu ở một rạp rất xa Việt Nam, một người không biết gì về lịch sử chúng ta sẽ bước ra ngoài và hỏi câu mà những câu chuyện lớn luôn khiến người ta hỏi: “Còn nữa không?”

Tối hôm xem “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh”, khi những con người ấy nhỏ dần giữa núi Ninh Bình, tôi bỗng hiểu điều làm mình xúc động không chỉ nằm trong câu chuyện về một vị vua đã mất. Nó nằm trong cảm giác rằng một phần lịch sử rất xa của đất nước mình, vốn lâu nay chủ yếu tồn tại với tôi bằng vài trang sách, tên người và niên đại, đột nhiên có núi, có gió, có tiếng trống, có kim loại, có những gương mặt và những bước chân. Nó có kích thước, nó sống, và trong hơn hai giờ, tôi có thể bước vào đó. Đó là điều màn ảnh lớn sinh ra để làm.

“Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” làm một điều rất đơn giản mà điện ảnh Việt Nam hiếm khi cho chúng ta được thấy: đưa lịch sử ra khỏi sách, đặt nó giữa núi sông, rồi để con người sống, yêu và hy sinh ở trong đó.

“Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ Vua Đinh” đã cho tôi cảm giác ấy không chỉ đưa tôi rời khỏi hiện tại trong hơn hai giờ, mà còn đưa tôi gần hơn với một phần lịch sử của chính dân tộc mình.

* Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả

Có thể bạn quan tâm

Các nghệ sĩ trong chương trình Gala Chuông vàng vọng cổ tối 30/8. Từ cuộc thi này, nhiều giọng ca triển vọng đã thành danh trên sân khấu cải lương thành phố. (Ảnh: Linh Bảo)

Đưa nghệ thuật cải lương đến với khán giả trẻ

Tiếp tục đổi mới công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học, Nghệ thuật-Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình Thành phố (Hãng phim TFS) sẽ tổ chức chương trình Nghệ thuật Cải lương-Ký ức lịch sử và Mã hóa văn hóa dân tộc vào ngày 4/9.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. (Ảnh: CTV).

Tổng kết Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 và chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Quốc khánh 2/9

Tối 2/9, tại Quảng trường Phú Yên, phường Tuy Hòa, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức tổng kết Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 và chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2026); Quốc khánh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026).

Tái hiện lễ cơm mới của đồng bào dân tộc Thái, tỉnh Sơn La. (Ảnh: BTC)

“4 góc nhà, 3 góc bếp”: Tình làng nghĩa xóm trong lễ mừng cơm mới của đồng bào Thái, tỉnh Sơn La

Sáng 2/9, tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), đồng bào dân tộc Thái, tỉnh Sơn La tái hiện lễ cơm mới thu hút nhân dân và du khách tham gia và trải nghiệm. Đây là hoạt động trong chuỗi sự kiện “Chợ phiên vùng cao-Cao nguyên mở hội” diễn ra từ ngày 29/8-2/9.

Hoạt động trình diễn khinh khí cầu tại Quảng trường Hùng Vương (phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau) trong khuôn khổ Lễ hội Khinh khí cầu và Ngày hội Văn hóa di sản năm 2026. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Cà Mau bừng sáng miền di sản và khát vọng vươn cao cùng đất nước

Vùng sông nước Cà Mau bừng lên sức sống mới trong không khí hân hoan của những ngày mùa Thu lịch sử. Lần đầu tiên, bầu trời Cà Mau rực rỡ bởi những dải màu kỳ diệu từ Lễ hội Khinh khí cầu và Ngày hội Văn hóa di sản năm 2026, diễn ra từ ngày 27/8 đến ngày 2/9 với chủ đề “Hội tụ bản sắc văn hóa nơi địa đầu cực nam Tổ quốc”.

Phụ nữ dân tộc Bố Y tại xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai. (Ảnh: VŨ LINH)

[Ảnh] Nét đẹp trang phục truyền thống của phụ nữ Bố Y

Thuộc nhóm các dân tộc rất ít người tại Việt Nam, người Bố Y (còn gọi là Tu Dí) cư trú tại xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Trang phục của phụ nữ Bố Y lưu giữ những dấu ấn riêng về phong tục, tập quán và quan niệm thẩm mỹ của cộng đồng.

Những công trình mang dấu ấn "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" trong lòng Thủ đô Hà Nội

Những công trình mang dấu ấn "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" trong lòng Thủ đô Hà Nội

Tháng 12/1946, trong những ngày tháng sục sôi khí thế "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", rất nhiều người con của Hà Nội đã anh dũng hy sinh. Ở nơi hồn thiêng sông núi ấy, hiện có 3 tượng đài tưởng nhớ những người con của Thủ đô đã ngã xuống trong 60 ngày đêm, mỗi cụm đều mang nhiều ý nghĩa cả về lịch sử, văn hóa và kiến trúc.

Tái hiện lễ cưới truyền thống của người Dao Đỏ tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Tái hiện lễ cưới truyền thống của người Dao Đỏ tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam

Ngày 1/9, trong không khí vui tươi chào mừng Quốc khánh 2/9, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) phối hợp Trung tâm Văn hóa và Thông tin du lịch tỉnh Cao Bằng tổ chức tái hiện lễ cưới truyền thống của người Dao (nhánh Dao Đỏ), thu hút đông đảo du khách tham quan, tìm hiểu. 

[Ảnh] Nhà tù Hỏa Lò đông nghịt du khách trước ngày Quốc khánh 2/9

[Ảnh] Nhà tù Hỏa Lò đông nghịt du khách trước ngày Quốc khánh 2/9

Ngày 1/9, trước thềm Quốc khánh 2/9, Di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò đón lượng khách tăng gấp 3 ngày thường. Dòng người ken đặc từ khu vực chờ bên ngoài đến các không gian tham quan bên trong, cho thấy sức hút đặc biệt của điểm đến lịch sử này, đồng thời đặt ra bài toán về tổ chức, điều tiết lượng khách trong những dịp cao điểm.

Nhạc sĩ Phú Quang thể hiện sáng tác của ông trong một chương trình nghệ thuật. (Ảnh: Gia đình cung cấp)

Đạo diễn Phạm Hoàng Nam: Mở cửa “căn phòng” ký ức Phú Quang

Đạo diễn Phạm Hoàng Nam có hơn 30 năm gắn bó với những ký ức đặc biệt về nhạc sĩ Phú Quang, từ cuộc gặp đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, những cuộc trò chuyện âm nhạc và sáng tạo, đến những lần cùng nhau ấp ủ các dự án nghệ thuật. Hơn 30 năm sau, những ký ức ấy trở lại theo một cách đặc biệt.

Hình ảnh trong bộ phim “Mưa đỏ”. (Ảnh: Nhà sản xuất)

Xây dựng hệ sinh thái cho điện ảnh Việt Nam

Năm 2025, phim Việt Nam lần đầu vượt mốc 60% thị phần phòng vé trong nước; bước sang những tháng đầu năm 2026, tỷ lệ này tiếp tục tăng lên hơn 70%. Nhưng giới chuyên gia cảnh báo, mức tăng này chưa hẳn đồng nghĩa với phát triển ổn định, khi phần lớn lợi nhuận vẫn dồn vào một số phim ăn khách.

Ca sĩ Nhật Huyền dành nhiều tâm huyết cho tác phẩm. (Ảnh: NVCC)

Ca sĩ Nhật Huyền lan tỏa giai điệu về đất nước, hòa bình

Nhân dịp Quốc khánh 2/9, ca sĩ Nhật Huyền giới thiệu dự án âm nhạc "Màu của Đất nước-Màu của Hòa bình". Qua những sáng tác về quê hương, con người và hòa bình, ca sĩ muốn gửi gắm tình yêu Tổ quốc, lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước.