Tìm giải pháp cho nhu cầu cấp thiết

Trong bối cảnh Việt Nam có số người cao tuổi gia tăng nhanh chóng, bài toán đào tạo lượng lớn điều dưỡng viên lão khoa đang trở thành nhu cầu thực tế nhằm bảo đảm trọng trách chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Việc chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi rất nhiều nguồn lực từ cả Chính phủ và cộng đồng. Nguồn: Greenfield School
Việc chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi rất nhiều nguồn lực từ cả Chính phủ và cộng đồng. Nguồn: Greenfield School

Bà Hồng, 80 tuổi, sống ở Thủ đô Hà Nội, là bệnh nhân mắc đái tháo đường và chứng đãng trí tuổi già. Mọi việc ăn uống, sinh hoạt cá nhân của bà đều phải nhờ vào người con trai. “Vào những ngày thời tiết thất thường, mẹ tui đã từng bị tụt huyết áp đến mức gia đình phải gọi cấp cứu. Gia đình tôi luôn mong muốn tìm được một điều dưỡng lão khoa vừa kiểm soát thực đơn dinh dưỡng, theo dõi y tế và hỗ trợ sinh hoạt hằng ngày, nhưng đúng là mò kim đáy bể”, ông Tùng chia sẻ.

Tính riêng tại Hà Nội, số lượng người cao tuổi từ 75 trở lên ước tính khoảng 250 nghìn người. Đây là nhóm cần nhiều sự trợ giúp xã hội và chăm sóc y tế nhất. Để có thể phục vụ bộ phận này, Thủ đô cần tới 10 bệnh viện, khoa lão và trung tâm y tế chăm sóc lão khoa...

Theo Báo cáo Nghiên cứu thị trường các sản phẩm, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam vừa được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố năm nay, khoảng 80% số người cao tuổi Việt Nam cần hỗ trợ trong sinh hoạt hằng ngày. Trong đó, 36% số người cao tuổi và gia đình sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Dù số lượng điều dưỡng tại các cơ sở y tế trong nước lên tới hơn 132.000 người, nhưng con số này vẫn là quá ít ỏi, nhất là khi Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số. Tỷ lệ điều dưỡng ở nước ta chỉ đạt gần 2 điều dưỡng/1 bác sĩ, mức thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Chúng ta kém Thái Lan tới ba lần và kém Nhật Bản tới 12 lần ở chỉ số này. Điều này đã và đang đặt ra thách thức cho Việt Nam về việc cải thiện sự thiếu hụt nguồn nhân lực, đồng thời phải bảo đảm chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao.

Theo Bộ Y tế, quy mô đào tạo khối ngành sức khỏe trên cả nước hiện nay là 13.000 sinh viên mỗi năm. Việt Nam đang thiếu 23.000 nhân viên y tế về y học dự phòng và công cộng. Để đáp ứng nhu cầu thực tế, chúng ta cần tới 20.000 sinh viên mới tốt nghiệp ra trường mỗi năm.

Tại Tọa đàm chuyên đề “Đào tạo nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe chất lượng cao” tổ chức năm 2024, các chuyên gia một lần nữa dự báo, đến năm 2036, nước ta sẽ bước vào thời kỳ dân số già. Nhu cầu của thị trường dịch vụ cho người cao tuổi sẽ tăng chóng mặt với khoảng 20 triệu “khách hàng tiềm năng” trong vòng 10 năm tới.

Hiện tại, cả nước có 12 trường đại học và 10 trường cao đẳng đào tạo ngành điều dưỡng nhưng không nhiều trường đào tạo chuyên ngành lão khoa. Điều này là nguyên nhân chính tạo nên áp lực lớn cho nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Do đó, giải pháp mở mã ngành đào tạo chuyên sâu về “chăm sóc người cao tuổi” của các trường trung cấp, cao đẳng sẽ cung cấp nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu, đồng thời khắc phục tình trạng thiếu hụt, mất cân đối nguồn nhân lực, đáp ứng ngày càng hiệu quả hơn công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân.

Thực tế, bộ môn lão khoa ở các trường không chỉ gói gọn trong việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi mà còn liên quan đến các vấn đề lão hóa ở mỗi độ tuổi khác nhau. Trong những năm gần đây, các chuyên gia y tế đã liên tục kiến nghị các bộ, ngành cần xây dựng mã ngành chăm sóc người cao tuổi ở các bậc đại học, cao đẳng và trung cấp.

Dẫu vậy, nghề điều dưỡng là công việc đầy rủi ro, vất vả. Khi đời sống được cải thiện, không nhiều học sinh hứng thú với ngành học này. Đó là chưa kể tới sự đãi ngộ rất thấp nếu làm việc tại các cơ sở y tế trong nước. Sinh viên mới ra trường khi chưa thuộc biên chế cũng không nhận được khoản tiền 40% phụ cấp đặc biệt. Tất cả là những lý do khiến công việc điều dưỡng viên vốn đã thiếu người, chuyên khoa lão lại càng thiếu trầm trọng hơn.

Để giải quyết khó khăn trước mắt, các cơ sở chăm sóc người cao tuổi phải cố gắng sử dụng nhân lực tốt nghiệp nhiều chuyên ngành khác nhau, bên cạnh ngành điều dưỡng. Sau khi tuyển dụng, các cơ sở này phải đào tạo lại nhằm bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên sâu về chăm sóc người cao tuổi trước khi giao nhiệm vụ chính thức. Đây cũng là điểm yếu gây lãng phí của quá trình đào tạo trong nước.

Đầu năm 2024, Australia đã thể hiện cam kết hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thông qua thúc đẩy hợp tác giáo dục nghề. Phái đoàn giáo dục nước này đã tìm hiểu các cơ hội tiềm năng của thị trường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang bùng nổ tại Việt Nam, cũng như chia sẻ với các đối tác nước ta về năng lực đào tạo của Australia nhằm đáp ứng các nhu cầu thị trường hiện tại.

Rõ ràng, không chỉ Việt Nam mà các nước phát triển trên thế giới cũng đang đối mặt bài toán thiếu nguồn nhân lực chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt là người cao tuổi. Nhu cầu bức thiết này cần được giải quyết nhanh chóng trước xu hướng già hóa dân số hiện nay.

Theo Bộ Y tế, mỗi năm, Việt Nam đào tạo 13.000 sinh viên khối ngành sức khỏe. Trong khi đó, để đạt được mục tiêu của Chính phủ đề ra, tầm nhìn đến năm 2050 đạt 35 bác sĩ, 4,5 dược sĩ và 90 điều dưỡng trên 10.000 dân, Việt Nam sẽ cần tới 20.000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm.

Có thể bạn quan tâm

Kỹ sư phần mềm là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi AI. Nguồn: FPT

Thuê trí tuệ - Lằn ranh đỏ

Trong lịch sử kinh tế, có một thứ vẫn luôn được coi là tài sản không thể chia, không thể mua, không thể bị tước đi: Trí tuệ của con người. Thời điểm Agentic AI (trí tuệ nhân tạo tự chủ) bùng nổ, điều đó không còn đúng nữa.

Trại huấn luyện của tác giả Linh Phan dành cho cá nhân muốn phát triển “công ty một người”. Nguồn: Vietnam Solo Expert

Mỗi cá nhân không còn nhỏ bé

Công nghệ có thể giúp một người vận hành như doanh nghiệp. Nhưng chỉ con người đủ trưởng thành mới có thể biến công nghệ thành tài sản, thay vì biến mình thành một cỗ máy sản xuất nhiều hơn.

Dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) không chỉ là công trình trọng điểm sử dụng hiệu quả vốn vay ODA từ Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), mà còn được coi là biểu tượng thể hiện tình hữu nghị Việt-Nhật. (Ảnh: Thành Đạt)

Nâng tầm tín nhiệm quốc gia

Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Kết luận số 18-KL/TW, trong đó có đề cập tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030.

Ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính)

Cải cách tư duy quản lý, mở rộng dư địa huy động vốn

“Được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 119) có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, tác động tích cực đến tiến độ triển khai cũng như định hướng huy động vốn trong giai đoạn đặc biệt quan trọng hiện nay”.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Cuộc sống của người dân châu Phi luôn phải đối mặt áp lực lớn cả về chính trị và xã hội, thậm chí sự bất bình đẳng do tình trạng “sống dựa” vào vay nợ của các quốc gia ở khu vực này.

Nhận diện vòng xoáy nợ nần trên toàn cầu

Khi đối mặt khủng hoảng cán cân thanh toán, tức không đủ khả năng chi trả cho nhập khẩu hay thanh toán nợ nước ngoài, các quốc gia thường tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hoặc những phương thức xử lý nợ mới.

Nhiều chương trình kết nối của CSIP đã hỗ trợ cộng đồng làm thiện nguyện chia sẻ bài học kinh nghiệm. (Nguồn: CSIP)

Chuyển dịch từ tự phát sang chú trọng bền vững

Nhìn một cách tổng thể, hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, từ những hành động mang tính tự phát, đang dần trở thành một nguồn lực xã hội có khả năng đóng góp vào các mục tiêu phát triển dài hạn.

Sự sụt giảm nguồn tài trợ đang mang đến những hệ lụy to lớn cho hệ thống cứu trợ nhân đạo toàn cầu.

Cân bằng phương trình bất khả thi

Chưa bao giờ, thế giới đối diện nhu cầu cứu trợ nhân đạo lớn như hiện tại. Nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ, nguồn tài trợ dành cho những hoạt động nhân đạo lại “eo hẹp” như lúc này.

Góc tập huấn sơ cứu - Góc “đắt hàng” nhất trong khuôn khổ Lễ phát động Tháng Nhân đạo năm 2026 cấp quốc gia tại Cung Thể thao Quần Ngựa (Hà Nội).

80 năm - Hành trình Nhân ái vì cộng đồng

Tháng Nhân đạo 2026 gắn với dấu mốc kỷ niệm 80 năm thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội.

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.