Trợ lực người cầm bút

Để có tác phẩm chất lượng cao, mấu chốt là ở chính nhà văn. PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Văn học, chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những giải pháp giúp nhà văn giải phóng năng lượng sáng tạo.

PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp.
PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp.

- Thưa ông, văn học Việt Nam đã ghi dấu nhiều thành tựu ấn tượng. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã có những đột phá về mặt tư duy nghệ thuật, tìm kiếm những giọng điệu mới, nhưng hành trình hội nhập với văn học thế giới vẫn còn rất gập ghềnh?

- Văn học Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Đội ngũ nhà văn trong nước và nhiều cây bút người Việt ở nước ngoài đã nỗ lực góp phần tạo nên sự phát triển đa dạng của văn học dân tộc.

Tuy nhiên, giữa văn học Việt Nam và văn học hiện đại thế giới vẫn còn một khoảng cách. Điều này có nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan. Tôi chỉ xin nêu một số nguyên nhân chính: Thứ nhất, về cơ bản văn học Việt Nam vẫn chủ yếu nói về những câu chuyện của mình, nhìn nhận đời sống theo cách của mình mà chưa kiến tạo được những diễn ngôn mang tính phổ quát về con người. Nghĩa là chúng ta chưa tạo được sự dịch chuyển mang tính hệ hình từ dân tộc sang nhân loại. Đây là hai phạm trù có mối quan hệ sâu sắc. Việc miêu tả sâu sắc lịch sử, đất nước, con người Việt Nam dĩ nhiên là hết sức quan trọng, nhưng phải làm sao để từ sự miêu tả của nhà văn, người đọc vừa hiểu Việt Nam vừa nhận thấy những vấn đề chung mà nhân loại quan tâm. Chỉ như thế, văn học Việt Nam mới đủ sức chinh phục cả người đọc trong nước lẫn người đọc nước ngoài.

Thứ hai, văn học Việt Nam còn thiếu những tác phẩm mang tầm triết - mỹ sâu sắc để thế giới có thể nhận diện một cách cụ thể về căn tính, bản sắc Việt. Đây là một đòi hỏi rất cao, mang tính đột phá. Không phải ngẫu nhiên mà khi nói đến văn học Mỹ Latin, ta nhớ đến chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, còn tiếp xúc với văn học Nhật Bản, người đọc tìm thấy ở đó mỹ học tối giản và sự sâu thẳm đầy chất thơ của người Nhật. Bản sắc/căn tính không phải là những thứ được định sẵn mà luôn được kiến tạo trong trường kỳ lịch sử và trong thực hành nghệ thuật của nhà văn. Nó đòi hỏi nhà văn không chỉ tiếp nhận những giá trị mà còn phải biết vượt lên những giới hạn của mỹ học cũ để khai mở ý thức mỹ học mới. Thứ ba, lượng tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra thế giới còn hết sức khiêm tốn. Chúng ta cũng thiếu hụt những công trình phê bình có khả năng quốc tế hóa để quảng bá cho sự phong phú của văn hóa và văn học dân tộc.

- Phải chăng, còn một lý do nữa, chúng ta chưa có sự hỗ trợ thích đáng, thưa ông?

- Câu hỏi này liên quan đến chiến lược quảng bá văn hóa, nghệ thuật Việt Nam ra thế giới. Về nguyên tắc, một nền văn học muốn hội nhập quốc tế tốt cần tạo dựng được hệ sinh thái có cấu trúc sáu tầng: Nhà văn chuyên nghiệp; dịch giả tinh thông nghề nghiệp; đại diện xuất bản (literary angents); quỹ hỗ trợ dịch thuật; hội chợ sách quốc tế; phê bình, học thuật có khả năng quốc tế hóa. Nếu căn cứ vào cấu trúc này sẽ thấy chúng ta đang thiếu hụt trầm trọng cả nhân lực lẫn vật lực. Đó là lý do văn học Việt Nam khó hội nhập quốc tế ngay cả khi chúng ta có nhiều tác phẩm đạt chất lượng tốt.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để nhanh chóng hội nhập, vai trò và sự hỗ trợ của Nhà nước cũng như các tổ chức xã hội là vô cùng cần thiết. Chẳng hạn ở Pháp có Institut Francais, Đức có Frankfurt Book Fair, ở Nhật có Japan Foundation, Hàn Quốc có Literature Translation Institute of Korea (gắn với làn sóng Hallyu)… Vì thế, muốn đẩy nhanh hội nhập quốc tế, chúng ta có rất nhiều việc để làm, trong đó, cần ưu tiên việc thành lập Trung tâm/ Viện quốc gia về dịch thuật-môi giới-quảng bá văn học. Trước mắt, phải thành lập một Hội đồng thật sự có uy tín về chuyên môn để tuyển chọn khoảng 100 tác phẩm xuất sắc (gồm các thể loại khác nhau), dịch sang tiếng Anh nhằm giới thiệu rộng rãi ra thế giới. Mặt khác, phải thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phê bình văn học, xây dựng các diễn đàn học thuật có khả năng đối thoại quốc tế.

- Thưa ông, trong sáng tạo văn chương, lý luận phê bình hết sức quan trọng. Làm sao để không khen bốc đồng, không chê vùi dập?

- Cũng như sáng tác, hoạt động lý luận, phê bình văn học sau 1975 có nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Nhiều lý thuyết văn học hiện đại của thế giới đã được giới thiệu, vận dụng hiệu quả, góp phần làm thay đổi tư duy nghiên cứu văn học. Bên cạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu chuyên ngành là sự mở rộng của hướng tiếp cận liên ngành, xuyên ngành. Về cơ bản, lý luận, phê bình đã đồng hành với sáng tác trong việc kiến tạo diễn ngôn nghệ thuật mới. Tuy nhiên, nếu từ 1986 đến giữa những năm 90, sự tương tác giữa lý luận, phê bình văn học và sáng tác khá nhịp nhàng thì từ năm 1995 trở lại đây, lý luận, phê bình văn học nhiều khi chưa bắt kịp thực tiễn sáng tạo nghệ thuật. Hiện tượng khen đến mức bốc đồng hay chê đến mức vùi dập vẫn còn xuất hiện nhiều. Tôi nghĩ, trước hết, đó là biểu hiện của tình trạng thương mại hóa trong lĩnh vực nghệ thuật. Nhưng sâu xa hơn, hiện tượng cực đoan này gắn liền với đạo đức phê bình và tiêu chí đánh giá nghệ thuật. Phê bình văn học không phải là nơi biểu đạt cảm xúc cá nhân hay chiêu thức PR cho tác giả, cũng không phải là diễn ngôn quy chụp đạo đức, hạ thấp nhân cách người khác mà phải là một thực hành diễn giải mang tính khoa học và trách nhiệm như Terry Eagleton quan niệm.

- Như ông đã từng chia sẻ, số lượng xuất bản phẩm lý luận, phê bình từ sau 1975 là vô cùng phong phú về số lượng nhưng vẫn còn khiêm tốn về chất lượng?

- Đó là đánh giá chung của cá nhân tôi cũng như nhiều người về thực tiễn lý luận, phê bình đương đại. Nhưng trước hết, cần phải khẳng định một thực tế: lý luận, phê bình văn học sau năm 1975 đã có nhiều đổi mới rất đáng chú ý. Đời sống lý luận, phê bình văn học đã xuất hiện một số công trình có chất lượng khoa học cao, mang tính đột phá, vận dụng khá nhuần nhuyễn nhiều lý thuyết văn học hiện đại của thế giới. Tuy nhiên, hiện tượng phê bình cảm tính, kể lể, bình tán chủ quan vẫn còn khá phổ biến.

Đến nay, chúng ta vẫn còn quá ít các công trình lý luận, phê bình hay giáo trình đại học được xuất bản ra khu vực và thế giới. Còn ít các hội thảo hoặc các tranh luận văn học mang tầm đối thoại học thuật quốc tế. Thậm chí, không ít cuộc tranh luận bị biến tướng, văn hóa tranh luận bị vi phạm nghiêm trọng, tranh luận bị biến thành chỗ hơn thua, cãi vã, dè bỉu, quy chụp lẫn nhau. Tệ nhất là có những người chưa đọc tác phẩm vẫn lên tiếng phê bình theo kiểu ăn theo, nói leo. Họ cắt xén, xuyên tạc văn bản, tự coi mình sở đắc chân lý để phê phán người khác mà không nghĩ đến việc phát ngôn của mình đã ảnh hưởng ra sao đến phong khí phê bình.

Theo ý tôi, bản chất của phê bình là đối thoại để truy tìm chân lý. Muốn đối thoại, đánh giá đúng giá trị văn học, lý luận, phê bình phải gắn với thực tiễn và chiều sâu học thuật, gắn liền với nền tảng lý thuyết vững vàng. Hoạt động phê bình phải thật sự là một hoạt động sáng tạo, vì thế, không thể nhìn thấy cái mới nếu nhà phê bình vẫn giữ nguyên cái nhìn cũ.

hoi-thao-van-hoc-viet-nam-sau-nam-1975-thanh-tuu-van-de-va-trien-vong.jpg
Đã có nhiều hội thảo được tổ chức nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về những chặng đường phát triển của Văn học Việt Nam.

- Đối với người viết trẻ, theo ông, làm sao để họ có đột phá trên con đường văn chương đầy nhọc nhằn?

- Thế hệ trẻ hiện nay có nhiều ưu thế và điều kiện mà thế hệ trước không có được. Họ được đào tạo bài bản, được tiếp xúc với thế giới một cách nhanh chóng, điều kiện công bố tác phẩm thuận lợi. Tuy nhiên, đó vẫn là những điều kiện bên ngoài mà thời thế đem lại. Còn lại, sự đột phá thật sự của người viết trẻ phải xuất phát từ nội lực, sức mạnh bên trong. Đó là ý thức tận hiến và quyết liệt trong sáng tạo, là tầm văn hóa và bản lĩnh cá nhân. Những thành quả nghệ thuật sẽ khó lòng bền vững nếu người trẻ bị chi phối bởi các yếu tố ngoài nghệ thuật hay nóng vội, chạy theo thời thượng. Điều quyết định, họ phải xác lập được con đường, giọng nói của chính mình và kiên trì với sự lựa chọn ấy.

- Cuối cùng, đâu là giải pháp giúp nhà văn giải phóng năng lượng sáng tạo, tìm kiếm những phương thức biểu đạt mới, phát huy tối đa tài năng?

- Để giải phóng năng lượng sáng tạo của nhà văn trong bối cảnh hội nhập quốc tế cần đến nhiều yếu tố nhưng đáng chú ý hơn cả là ba yếu tố sau đây: một là, tôn trọng quyền tự do sáng tạo của nhà văn; hai là, xây dựng hệ sinh thái văn hóa nhân văn và môi trường đối thoại (trong nước và quốc tế) lành mạnh; ba là, phát huy tài năng và bản lĩnh của nhà văn. Trong ba yếu tố này, yếu tố thứ ba là quan trọng nhất, vì xét đến cùng, tầm vóc của một nền văn học trước hết gắn liền với trách nhiệm và sứ mệnh của nhà văn!

- Xin trân trọng cảm ơn ông! ■

Có thể bạn quan tâm

Du khách quốc tế khám phá văn hóa sông nước tại thành phố Cần Thơ. Ảnh: Lâm Phong

Sức bật từ những thương hiệu văn hóa đặc thù

Cùng với hàng nghìn lễ hội truyền thống đặc sắc, thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, nhiều mô hình sự kiện văn hóa, liên hoan, lễ hội mới... đã và đang được các địa phương trên cả nước từng bước xây dựng, với kỳ vọng tạo sức bật cho phát triển du lịch từ giá trị, thế mạnh riêng có của mình.

"Ngã tư quốc tế" Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến trong khu phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Hà Nội và kỳ vọng mang tên Kinh tế đêm

Lựa chọn gắn với bảo tồn di sản, phát huy tinh hoa văn hóa và thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm tại Thủ đô Hà Nội đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần xây dựng thương hiệu Thành phố trải nghiệm văn hóa ban đêm an toàn, văn minh, hiện đại và giàu bản sắc.

Vườn quốc gia Cát Tiên trở thành điểm đến mới của du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam. Ảnh: Hải Lâm

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên

Từ bảo tồn biển, du lịch dưới tán rừng đến thích ứng với thiên tai, một số mô hình tại Việt Nam cho thấy hướng phát triển thống nhất trong khai thác, phát triển du lịch kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc và tạo sinh kế cho người dân.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải.

Cần đột phá trong tư duy và hành động

Từ góc nhìn của người có nhiều kinh nghiệm quản lý lĩnh vực văn hóa và du lịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu của du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Du khách quốc tế đến với Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Lâm Phong

Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị

Du lịch Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với lượng khách và tổng thu liên tục tăng trưởng. Nhưng để duy trì sức hấp dẫn lâu dài, cần đi xa hơn việc khai thác cảnh quan và di sản, hướng tới phát triển xanh, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm cộng đồng địa phương thật sự được hưởng lợi.

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.