Hướng tới mục tiêu nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức "Đầu tư"
Phóng viên: Thưa Thứ trưởng, việc Moody’s nâng triển vọng của Việt Nam từ mức Ổn định lên Tích cực, giữ xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Ba2 có ý nghĩa như thế nào đối với nền kinh tế Việt Nam?
Thứ trưởng Trần Quốc Phương: Trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động và thách thức, nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới đã bị các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hạ triển vọng hoặc hạ bậc tín nhiệm quốc gia. Việc Việt Nam được tổ chức Moody’s khẳng định xếp hạng tín nhiệm quốc gia và nâng triển vọng lên Tích cực thể hiện sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế về các nỗ lực chỉ đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam để ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách sâu rộng hệ thống thể chế. Với đánh giá này, Việt Nam là quốc gia duy nhất được tổ chức Moody’s đánh giá triển vọng Tích cực trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APAC).
Việc nâng triển vọng lên mức Tích cực và khẳng định xếp hạng tín nhiệm quốc gia có ý nghĩa hết sức tích cực, mang ý nghĩa chiến lược cho toàn bộ nền kinh tế.
Đối với Chính phủ, trong bối cảnh cần huy động nguồn vốn rất lớn để đáp ứng các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển giai đoạn tới, việc nâng triển vọng góp phần giúp Chính phủ mở rộng các kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển với chi phí hợp lý.
Khi triển vọng được nâng lên, “mức độ rủi ro” của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư giảm xuống, do đó, sẽ giúp giảm chi phí vay vốn trên thị trường quốc tế của Chính phủ.
Xếp hạng tín nhiệm quốc gia là điểm tham chiếu cho các tổ chức phát hành khác của Việt Nam như doanh nghiệp, ngân hàng thương mại, khi triển vọng tín nhiệm của quốc gia được nâng lên thì các tổ chức này cũng có thể tiếp cận thị trường vốn quốc tế với chi phí vay thuận lợi hơn.
Đối với uy tín của quốc gia, trong bối cảnh địa chính trị phức tạp và nhiều nước bị hạ triển vọng, hạ bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia, việc Việt Nam “lội ngược dòng” giúp Việt Nam nâng cao uy tín của quốc gia, đồng thời gia tăng niềm tin đối với các nhà đầu tư quốc tế, đưa đất nước trở thành điểm đến an toàn cho dòng vốn dịch chuyển từ các thị trường rủi ro.
Tóm lại, việc chúng ta được nâng triển vọng là điều kiện thuận lợi để đất nước bước vào một kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng “hai con số” gắn liền với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn; huy động, khơi thông và giải phóng nhanh mọi nguồn lực xã hội.
Phóng viên: Đâu là căn cứ để Moody’s nâng triển vọng của Việt Nam tại thời điểm hiện nay, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Trần Quốc Phương: Xếp hạng tín nhiệm quốc gia được khẳng định ở mức Ba2 phản ánh đánh giá của Moody’s đối với các thế mạnh hồ sơ tín nhiệm cốt lõi của Việt Nam vẫn được bảo toàn vững chắc, tiếp tục củng cố mức xếp hạng tín nhiệm hiện tại của Việt Nam. Tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ của Việt Nam vẫn là chỗ dựa chính, được củng cố bởi cơ sở xuất khẩu đa dạng, nhu cầu nội địa phục hồi và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững, hỗ trợ cải thiện ổn định kinh tế vĩ mô. Điểm tài khóa của Việt Nam tiếp tục là điểm mạnh nhờ nợ Chính phủ duy trì ở mức thấp và ổn định, khả năng trả nợ vững vàng, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn huy động nước ngoài giúp giảm rủi ro ngoại tệ và tăng khả năng chống chịu với các rủi ro từ bên ngoài.
Cơ sở để tổ chức Moody’s nâng Triển vọng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dựa trên một số yếu tố chính:
Thứ nhất, về cải cách thể chế và quản trị, Moody’s điều chỉnh triển vọng với niềm tin rằng cải cách thể chế và quản trị của Việt Nam sẽ mang lại những cải thiện lâu dài trong trung hạn. Moody’s đánh giá chất lượng thể chế và quản trị của Việt Nam đang được cải thiện rõ rệt, thông qua cải cách thủ tục hành chính, pháp luật và khu vực công được bắt đầu thực hiện từ cuối năm 2024.
Tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ của Việt Nam vẫn là chỗ dựa chính, được củng cố bởi cơ sở xuất khẩu đa dạng, nhu cầu nội địa phục hồi và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững, hỗ trợ cải thiện ổn định kinh tế vĩ mô. Điểm tài khóa của Việt Nam tiếp tục là điểm mạnh nhờ nợ Chính phủ duy trì ở mức thấp và ổn định, khả năng trả nợ vững vàng, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn huy động nước ngoài giúp giảm rủi ro ngoại tệ và tăng khả năng chống chịu với các rủi ro từ bên ngoài.
Đến nay, tiến trình cải cách đang dần mang lại những kết quả bước đầu. Việc tái cấu trúc thể chế làm giảm bớt các tầng nấc hành chính, sáp nhập bộ ngành và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, qua đó có thể đóng góp nâng cao hiệu quả quy trình phê duyệt dự án và thủ tục quản lý. Những bước tiến này giúp cải thiện điểm thể chế trong hồ sơ xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và giảm thiểu các rủi ro tiềm ẩn.
Thứ hai, cải cách về cơ cấu đang giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu với các cú sốc bên ngoài của nền kinh tế. Việt Nam thực hiện các chính sách đẩy mạnh số hóa, đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển thị trường vốn theo chiều sâu. Những cải cách này nhằm giải quyết các hạn chế về cơ cấu đã tồn tại lâu nay, thí dụ như điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng và thiếu hụt kỹ năng làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư phức tạp của Việt Nam.
Tổ chức Moody’s nhận định rủi ro từ các biện pháp bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ cũng đã giảm bớt so với dự kiến trước đó, trong khi Việt Nam đã thể hiện khả năng phục hồi thông qua tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, tăng trưởng xuất khẩu và du lịch kỷ lục, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bền vững, củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Mức triển vọng “Tích cực” là mức triển vọng cao nhất theo đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đối với từng bậc xếp hạng tín nhiệm (Tiêu cực - Ổn định - Tích cực) và tổ chức xếp hạng tín nhiệm sẽ duy trì một khoảng thời gian theo dõi triển vọng này để cân nhắc xem xét điều chỉnh bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Các nhận định, đánh giá của Moody’s là cơ sở để Chính phủ Việt Nam rà soát các yếu tố hạn chế để xây dựng lộ trình cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Hiện nay, Việt Nam đang được tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s xếp hạng ở mức Ba2, triển vọng Tích cực, thấp hơn 2 bậc so với mức “Đầu tư”. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P và Fitch xếp hạng ở mức BB+, triển vọng “Ổn định”, chỉ thấp hơn 1 bậc so với mức “Đầu tư”.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu đạt mức xếp hạng “Đầu tư”
Theo Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu đạt mức xếp hạng “Đầu tư”. Bộ Tài chính đã, đang và sẽ thực hiện lộ trình phấn đấu đạt được mục tiêu này. Bộ Tài chính đã giao Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại điều phối làm việc với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia, trong thời gian qua đã nỗ lực truyền tải các thông điệp về chính sách, cải cách cũng như kết quả của Việt Nam tới các tổ chức xếp hạng tín nhiệm.
Hiệu quả phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan, nâng cao chất lượng các buổi làm việc là một trong các điểm sáng được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm ghi nhận, qua đó giúp các tổ chức này có thông tin đầy đủ, kịp thời để đưa ra các nhận định, đánh giá sát thực về Việt Nam.
Khi Việt Nam đạt được mục tiêu mức xếp hạng “Đầu tư”, chi phí vay vốn của Chính phủ cũng như doanh nghiệp, ngân hàng thương mại của Việt Nam sẽ được tối ưu hóa thông qua giảm trực tiếp lãi suất vay, kéo dài kỳ hạn vay, mở rộng tệp nhà đầu tư do nhiều Quỹ đầu tư có quy định khắt khe chỉ được phép đầu tư vào các quốc gia đạt mức xếp hạng Đầu tư.
Hóa giải "điểm nghẽn" để tiếp tục nâng hạng tín nhiệm quốc gia
Phóng viên: Cùng với việc nâng hạng, Moody’s cũng chỉ ra hạn chế về rủi ro của hệ thống ngân hàng, thị trường bất động sản và các tồn tại về thể chế. Chúng ta cần có giải pháp gì để các yếu tố này không cản trở mục tiêu nâng hạng tín nhiệm lên mức cao hơn trong thời gian tới?
Thứ trưởng Trần Quốc Phương: Để bảo đảm các yếu tố này không cản trở mục tiêu nâng hạng tín nhiệm lên mức cao hơn trong thời gian tới, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp quyết liệt và đồng bộ theo các nhóm chính như sau:
Thứ nhất, về hệ thống ngân hàng, do hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện có quy mô rất lớn so với nền kinh tế, theo quan điểm của các cơ quan xếp hạng tín nhiệm, việc này thể hiện rủi ro tiềm ẩn của hệ thống ngân hàng. Việt Nam cần nâng cao năng lực vốn và quản trị rủi ro, đẩy nhanh lộ trình áp dụng hoàn toàn Basel III (theo thông tư số 14/2025) để cải thiện hệ số an toàn vốn, quyết liệt xử lý nợ xấu, tăng cường minh bạch dữ liệu để các tổ chức xếp hạng tín nhiệm có thể đánh giá chính xác hơn về rủi ro cho vay.
Thứ hai, đối với thị trường bất động sản, cần triển khai hiệu quả các quy định mới tại Luật Đất đai 2024 để tăng tính minh bạch, giảm các tầng nấc hành chính trong việc phê duyệt dự án. Đồng thời, giám sát và kiểm soát chặt chẽ tác động từ nợ của các doanh nghiệp bất động sản tới bảng cân đối kế toán của các ngân hàng để tránh tình trạng rủi ro lan rộng nếu thị trường bất động sản gặp khó khăn.
Thứ ba, về thể chế, cần nâng cao năng lực thực thi và tính dự báo. Mặc dù Moody’s đánh giá cao các cải cách về thể chế của Việt Nam trong thời gian qua, tuy nhiên vẫn còn lo ngại về tốc độ thực thi và tính minh bạch. Việt Nam cần tiếp tục cải cách hành chính, quyết liệt tái cấu trúc bộ máy nhà nước, giảm bớt thủ tục trung gian để đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công, đặc biệt là các dự án hạ tầng trọng điểm. Bên cạnh đó, cần hiện đại hóa tài khóa, triển khai Chiến lược cải cách thuế đến năm 2030, tăng cường quản trị doanh nghiệp nhà nước, giảm bớt rủi ro nợ tiềm ẩn từ khu vực này cho ngân sách nhà nước.
Phóng viên: Có thể nhận thấy gần đây, các tổ chức quốc tế kỳ vọng việc Việt Nam tăng đầu tư cho phát triển, đặc biệt là đầu tư cho hạ tầng trọng điểm sẽ cải thiện chất lượng hạ tầng và logistics, là động lực thúc đẩy tăng trưởng. Xin Thứ trưởng cho biết trọng tâm của công tác đầu tư công trong năm 2026 nói riêng và giai đoạn 2026-2030 nói chung để đầu tư công tiếp tục là động lực quan trọng hỗ trợ tăng trưởng dài hạn?
Thứ trưởng Trần Quốc Phương: Để hỗ trợ tăng trưởng dài hạn, trọng tâm của Kế hoạch đầu tư công năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 là bố trí vốn tập trung, không dàn trải với quy mô lớn, dồn nguồn lực vào các công trình mang tính lan tỏa như hạ tầng giao thông, hạ tầng số, năng lượng và kết nối vùng. Tổng vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt quy mô kỷ lục 8,22 triệu tỷ đồng, hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững, giảm tối thiểu 30% số lượng dự án so với giai đoạn trước, tập trung vào các dự án trọng điểm.
Thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, báo cáo Chính phủ hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công trình Quốc hội thông qua vào Kỳ họp thứ 2 năm 2026. Đây sẽ là cú hích đơn giản hóa triệt để quy trình thủ tục, thúc đẩy tiến độ của các dự án đầu tư công.
Đồng thời, trong giai đoạn 2026-2030, đầu tư công cũng sẽ đóng vai trò là “vốn mồi” để thu hút nguồn vốn tư nhân.
Việc đầu tư vào hạ tầng trọng điểm trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ giúp thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP mà còn giúp Việt Nam giảm chi phí logistics, từ đó thu hút FDI bền vững.