Thời kỳ dân số vàng của Việt Nam dự báo sẽ kết thúc vào năm 2036

“Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074” do Cục Thống kê công bố mới đây đưa ra nhiều con số cảnh báo tốc độ tăng dân số giảm dần, thời kỳ dân số vàng sẽ khép lại vào năm 2036, Việt Nam thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn vào năm 2049...

Tuyên truyền về công tác dân số.
Tuyên truyền về công tác dân số.

Dự báo này trình bày số liệu về quy mô dân số năm 2024 từ kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 đồng thời dự báo quy mô dân số của toàn quốc, khu vực thành thị, nông thôn, 6 vùng kinh tế-xã hội và 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho giai đoạn 2024 -2074.

Mức giảm dân số diễn ra khá nhanh và ngày càng mạnh

Theo dự báo dân số Việt Nam tiếp tục tăng trong các thập kỷ tới nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm dần và dự kiến đạt đỉnh vào khoảng năm 2059 theo phương án trung bình trước khi chuyển sang giai đoạn tăng chậm hoặc ổn định.

Trong vòng 50 năm tới (từ 2024 đến 2074) dân số Việt Nam theo 3 kịch bản về mức sinh là mức sinh thấp (1,45 con/phụ nữ), mức sinh trung bình (1,85 con/phụ nữ) và mức sinh cao (2,01 con/phụ nữ) sẽ tăng thêm tương ứng là 2,5%, 12,7%, và 17,0%, đạt lần lượt là 103,9; 114,2 và 118,5 triệu người.

Cụ thể, theo phương án trung bình, trong 5 năm đầu của thời kỳ dự báo, 2024-2029, tỷ lệ tăng dân số bình quân hằng năm của cả nước là 0,66%. Những năm sau đó, tốc độ tăng dân số hằng năm giảm dần và sẽ đạt trạng thái “dừng” vào năm 2060 với tốc độ tăng bằng 0%, từ năm 2061 trở đi, tốc độ tăng dân số ghi nhận giá trị âm.

Trong trường hợp mức sinh giảm như phương án thấp thì năm 2051, dân số Việt Nam sẽ ghi nhận tình trạng tăng trưởng âm, sớm hơn 10 năm so với phương án trung bình. Điều đáng nói là mức giảm dân số diễn ra khá nhanh và ngày càng mạnh.

Giai đoạn 2049-2054, bình quân mỗi năm dân số giảm 0,05%/năm, mức giảm này ở cuối thời kỳ dự báo (2069-2074) là 0,44%/năm, tương đương giảm bình quân 461 nghìn người mỗi năm.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đang nỗ lực xây dựng các chính sách, chiến lược nhằm duy trì mức sinh thay thế, do đó, Cục Thống kê xây dựng kịch bản mức sinh Việt Nam sẽ đạt 2,01 con/phụ nữ vào cuối thời kỳ dự báo cho phương án cao.

Theo đó, dân số Việt Nam vẫn tăng nhẹ cho đến năm 2074. Bình quân mỗi năm giai đoạn 2069-2074, dân số tăng 0,05%, tương đương 58 nghìn người mỗi năm.

Đến 2049, dự báo Việt Nam thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn

Kết quả dự báo cho thấy trong những năm tới tỷ số giới tính của dân số Việt Nam duy trì ở mức tương đối cân bằng giữa nam và nữ. Đến năm 2029, cả ba kịch bản thay đổi về mức sinh đều dự báo tỷ số giới tính đạt 99,8 nam trên 100 nữ.

Từ năm 2034, theo phương án trung bình, tỷ số giới tính tăng nhẹ lên 99,9 nam/100 nữ và giữ ổn định đến đầu những năm 2040, trước khi có xu hướng giảm dần trong các giai đoạn tiếp theo. Đến năm 2074, tỷ số này sẽ còn 98,5 nam/100 nữ cho thấy trong dài hạn, tỷ lệ nữ trong dân số có thể nhỉnh hơn nam.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của Việt Nam được ghi nhận từ những năm đầu của thế kỷ 21, khoảng từ năm 2005 đến nay. Hiện tượng này đã dẫn tới thay đổi trong cơ cấu giới tính của dân số và kéo theo nguy cơ thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn trong tương lai.

Điều tra dân số giữa kỳ năm 2024 tiếp tục ghi nhận tình trạng thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn khi số nam giới trong độ tuổi kết hôn nhiều hơn phụ nữ cùng nhóm tuổi khoảng 415,2 nghìn người.

Theo kịch bản dân số trung bình, vào năm 2029, cứ 100 nam giới trong độ tuổi kết hôn (20-39 tuổi) thì có hơn 3 người bị dư thừa do thiếu phụ nữ trong cùng nhóm tuổi, hệ lụy của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trong những năm 2000. Đến năm 2034, số nam giới ở tuổi kết hôn nhiều hơn so với nữ giới cùng nhóm tuổi là 711,7 nghìn người, tương đương 4,9% dân số nam từ 20 đến 39 tuổi.

Sau năm 2034, tình trạng dư thừa nam giới hay thiếu hụt nữ giới trong độ tuổi kết hôn (20-39 tuổi) tiếp tục duy trì và có xu hướng nghiêm trọng hơn các năm trước. Đến năm 2049, Việt Nam được dự báo sẽ chứng kiến tình trạng thiếu hụt phụ nữ trong độ tuổi kết hôn cao nhất, thiếu khoảng 1,3 triệu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn (tương ứng với 8,7% nam giới trong độ tuổi kết hôn).

Sau năm 2049, tình trạng dư thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn có dấu hiệu hạ nhiệt do giả thiết tỷ số giới tính khi sinh từ sau năm 2034 dần trở lại mức cân bằng. Đến năm 2074, dân số nam đến tuổi kết hôn nhiều hơn khoảng 829 nghìn người so với dân số nữ cùng độ tuổi. Điều này cho thấy, hệ lụy của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trong 30 năm đầu của thế kỷ 21 tiếp tục tác động kéo dài đến cơ cấu giới tính của dân số trong những thập kỷ tiếp theo.

Theo các chuyên gia, tình trạng thiếu hụt nữ giới trong độ tuổi kết hôn có thể làm gia tăng tính dễ tổn thương của một bộ phận phụ nữ trong xã hội, những người vốn có nhiều nguy cơ bị bạo lực, bóc lột tình dục và nạn buôn bán, trong bối cảnh nhu cầu cạnh tranh tìm kiếm bạn đời của nam giới ngày càng lớn. Những hệ lụy này đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt trong hoạch định chính sách dân số, giới và bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương.

Cũng theo dự báo, thời kỳ cơ cấu dân số vàng của Việt Nam (tức cứ 2 người trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) “gánh đỡ” một người ở độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 hoặc từ 65 trở lên) sẽ khép lại vào năm 2036, “nhường chỗ” cho thời kỳ dân số già và siêu già, thể hiện qua sự thu hẹp các nhóm tuổi trẻ và trung niên, cùng với sự gia tăng nhanh của nhóm dân số cao tuổi.

Cùng với đó, di cư nội địa tiếp tục là một trong những nhân tố quan trọng làm thay đổi phân bố dân cư giữa các vùng, phản ánh sự khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và khả năng thu hút, sử dụng lao động của các địa phương.

Có thể bạn quan tâm

Thạc sĩ, chuyên gia tâm lý Hoàng Quốc Lân khám, tư vấn cho bệnh nhân. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Nhận diện sớm những bất thường tâm lý, hành vi ở trẻ để ngăn hậu quả đáng tiếc

Những thay đổi bất thường về cảm xúc, hành vi ở trẻ có thể xuất phát từ nhiều áp lực và trải nghiệm trong cuộc sống. Theo Thạc sĩ, chuyên gia tâm lý Hoàng Quốc Lân, việc nhận diện sớm các dấu hiệu, đồng hành và hỗ trợ kịp thời có thể giúp trẻ vượt qua khó khăn trước khi vấn đề trở nên nghiêm trọng.

Ê-kíp phẫu thuật áp dụng phương pháp phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít hợp kim titanium đường trong miệng. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Nẹp vít hàm mặt qua đường rạch trong khoang miệng giúp bảo tồn khớp nhai và tính thẩm mỹ

Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Đức Hòa (Tây Ninh) vừa thực hiện thành công ca phẫu thuật nắn chỉnh và kết hợp xương bằng nẹp vít hàm mặt. Đáng chú ý, toàn bộ quá trình tiếp cận ổ gãy đều được thực hiện qua đường rạch trong khoang miệng, giúp bảo tồn tính thẩm mỹ và phục hồi chức năng vận động khớp nhai cho người bệnh.

Bác sĩ khám lại cho bệnh nhi. (Ảnh: BVCC)

Cảnh giác Adenovirus gây sốt cao 40 độ C ở trẻ nhỏ

Bé trai 4 tuổi ở Ninh Bình nhập viện sau 2 ngày sốt cao liên tục, có thời điểm 40 độ C, kèm sưng đau họng, amidan có giả mạc và ăn uống kém. Bác sĩ cảnh báo Adenovirus có thể gây biến chứng viêm phổi, suy hô hấp nếu bệnh tiến triển xuống đường hô hấp dưới.

Bác sĩ phẫu thuật cho bệnh nhi. (Ảnh: BVCC)

Bé trai 12 tuổi dị tật tai bẩm sinh, cholesteatoma phá hủy xương chũm

Trên nền dị tật vành tai, ống tai bẩm sinh hai bên, bé trai 12 tuổi mắc cholesteatoma đã lan rộng vào xương chũm, gây tiêu hủy xương và viêm cấp. Các bác sĩ Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương phải phẫu thuật loại bỏ bệnh tích, đồng thời bảo tồn tối đa các cấu trúc quan trọng để chuẩn bị cho việc tái tạo vành tai sau này.

[Video] Dự kiến nâng mức hưởng bảo hiểm y tế lên 85% từ năm 2027

[Video] Dự kiến nâng mức hưởng bảo hiểm y tế lên 85% từ năm 2027

Từ ngày 1/7/2027 nâng mức hưởng bảo hiểm y tế đối với các trường hợp hiện được hưởng 80% chi phí khám, chữa bệnh lên 85%, tiến tới 90% từ ngày 1/7/2029. Đây là nội dung đang được Bộ Y tế dự thảo tại Nghị định quy định lộ trình tăng mức hưởng và phạm vi hưởng bảo hiểm y tế, phù hợp mức đóng và khả năng cân đối của quỹ.

Bác sĩ mổ cấp cứu lấy thai kịp thời cho sản phụ. (Ảnh: Bệnh viện cung cấp)

Tưởng chuyển dạ, thai phụ 36 tuần đối mặt biến chứng hy hữu

Thai phụ 36 tuần nhập viện vì đau bụng, không ra máu, không ra nước, tim thai và huyết động đều ổn định. Tuy nhiên, các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương phát hiện vết nứt 3cm ở góc phải tử cung, màng ối đã tràn ra ngoài ổ bụng, kịp thời mổ cấp cứu cứu mẹ và bé.

Phụ huynh dễ dàng thao tác quét mã QR và kiểm chứng thông tin về lon sản phẩm trên tay. (Nguồn ảnh: Nestle)

Minh bạch nguồn gốc và chất lượng trở thành tiêu chí quan trọng khi phụ huynh chọn sản phẩm dinh dưỡng

Khi lựa chọn sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, bên cạnh bảng thành phần, nguồn gốc hay các tiêu chuẩn chất lượng là những thông tin quan trọng mà phụ huynh cần tham khảo. Việc các thông tin này được cung cấp rõ ràng, dễ tiếp cận giúp cha mẹ có thêm cơ sở tìm hiểu trước khi đưa ra lựa chọn phù hợp với nhu cầu của con.

Hội nghị Quản lý bệnh viện châu Á 2026 diễn ra tại Bangkok, Thái Lan. (Ảnh: XUÂN SƠN)

Dấu ấn Việt Nam tại hội nghị Quản lý bệnh viện châu Á

Diễn ra từ ngày 2-3/9 tại thủ đô Bangkok của Thái Lan, Hội nghị Quản lý bệnh viện châu Á (HMA) 2026 quy tụ đông đảo các nhà quản trị, nhà hoạch định chính sách và chuyên gia trong lĩnh vực y tế tại khu vực. Việt Nam có hai đại diện được vinh danh trong số 25 nhân vật có ảnh hưởng hàng đầu của Hội nghị Quản lý bệnh viện châu Á.

Bác sĩ thực hiện thủ thuật xử trí tình trạng biến chứng cho bệnh nhân. (Ảnh: BVCC)

Cảnh báo biến chứng thẩm mỹ dai dẳng sau can thiệp vùng ngực

Sau phẫu thuật đặt túi ngực, tiêm filler, không ít chị em phải nhập viện trong tình trạng gặp biến chứng nặng nề. Các bác sĩ cảnh báo những biến chứng nhiễm trùng sau các thủ thuật thẩm mỹ có thể kéo dài và khó điều trị nếu không được xử trí đúng cách.

Các y, bác sĩ khám bệnh cho người dân xã Than Uyên. (Ảnh: TRẦN TUẤN)

Lai Châu đưa chính sách khám sức khỏe đến gần người dân

Địa hình chia cắt, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn khiến việc chăm sóc sức khỏe định kỳ của người dân vùng sâu, xa của Lai Châu gặp không ít trở ngại. Chương trình khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc miễn phí được triển khai góp phần đưa dịch vụ y tế đến gần người dân, giúp họ nâng cao ý thức chủ động chăm sóc sức khỏe.

Bác sĩ bệnh viện đa khoa Xanh Pôn khám cho học sinh tại trường Trung học cơ sở Ba Đình ngày 22/8/2026. (Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Bộ Y tế hướng dẫn kiểm tra sức khỏe đầu năm học

Việc kiểm tra sức khỏe đầu năm học đối với trẻ em mầm non và học sinh phổ thông được thực hiện mỗi năm một lần vào đầu năm học, nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe, bệnh, tật phổ biến ở lứa tuổi học đường.

Lực lượng quản lý thị trường kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh sản phẩm sữa. (Ảnh: Bộ Công thương)

Giảm thủ tục tiền kiểm, tăng hậu kiểm trong quản lý an toàn thực phẩm

Bộ Y tế hiện đang là đầu mối, phối hợp các bộ, ngành và cơ quan liên quan xây dựng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết thông qua chính sách Luật này, trong đó nội dung chính sách được xây dựng theo hướng quản lý an toàn thực phẩm giảm bớt thủ tục tiền kiểm, tăng hậu kiểm.

Với việc hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân, người dân được khám bệnh, sàng lọc định kỳ, quản lý sức khỏe liên tục (Ảnh: Thu Trang)

Khơi thông các nguồn lực tài chính hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân

Tăng đầu tư y tế là yêu cầu cấp thiết để tạo nền tảng bền vững hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đưa ra. Đầu tư cho y tế hôm nay là đầu tư cho sức khỏe người dân, năng suất và tăng trưởng bền vững của Việt Nam.