Tăng trưởng xanh - Con đường phát triển bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Đây chính là giải pháp hài hòa giữa tăng trưởng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này.
Tăng trưởng xanh là xu hướng phát triển tất yếu của nhiều quốc gia.
Tăng trưởng xanh là xu hướng phát triển tất yếu của nhiều quốc gia.

Xu thế toàn cầu

Theo Báo cáo Đánh giá khí hậu toàn cầu năm 2023 của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), năm 2023 được ghi nhận là năm nóng nhất trong lịch sử, với nhiệt độ trung bình toàn cầu cao hơn 1,45 độ C so thời kỳ tiền công nghiệp.

Cùng với đó, nước biển dâng và tình trạng suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm không khí và nguồn nước, suy thoái đất... đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh môi trường, sức khỏe cộng đồng và nền tảng phát triển kinh tế-xã hội.

Trong bối cảnh đó, việc tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng giảm phát thải khí nhà kính, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững đã trở thành xu thế tất yếu, giúp các quốc gia thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và hạn chế những rủi ro môi trường dài hạn.

Áp lực từ cộng đồng quốc tế và các hiệp định toàn cầu đã tạo ra khuôn khổ pháp lý và cam kết chính trị mạnh mẽ nhằm thúc đẩy chuyển dịch sang nền kinh tế xanh. Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu (năm 2015) đã đặt ra mục tiêu giữ nhiệt độ trung bình toàn cầu không tăng quá 1,5-2 độ C so với mức thời kỳ tiền công nghiệp, đồng thời yêu cầu các quốc gia xây dựng lộ trình cắt giảm phát thải khí nhà kính thông qua Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDCs).

Bên cạnh đó, các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc đến năm 2030 cũng nhấn mạnh mối liên hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả và công bằng xã hội. Nhiều quốc gia đã cụ thể hóa cam kết này bằng các chính sách như: thuế carbon, quy định khí thải, thúc đẩy tài chính xanh và khuyến khích đổi mới công nghệ xanh.

Ngoài ra, các tiêu chuẩn ESG (môi trường, xã hội và quản trị) cũng ngày càng trở thành yếu tố bắt buộc trong đầu tư quốc tế và quản trị doanh nghiệp, tạo áp lực thúc đẩy các nền kinh tế hướng tới mô hình phát triển bền vững hơn.

Tăng trưởng xanh mang lại lợi ích dài hạn và bền vững cho nền kinh tế. Không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, mô hình tăng trưởng này còn mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế mới thông qua việc mở rộng các ngành công nghiệp xanh như: năng lượng tái tạo, nông nghiệp hữu cơ, công nghệ xử lý môi trường và kinh tế tuần hoàn.

Theo Báo cáo Triển vọng việc làm xanh của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh có thể tạo ra hơn 24 triệu việc làm mới trên toàn cầu vào năm 2030, đồng thời giảm bớt nguy cơ mất việc trong các ngành gây ô nhiễm cao.

Ngoài ra, tăng trưởng xanh giúp các quốc gia nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế thông qua việc cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên, tăng cường đổi mới sáng tạo và giảm thiểu chi phí ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai.

Thực tiễn triển khai tại Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021.

Chiến lược này đặt ra 4 mục tiêu trọng tâm: (1) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP; (2) Xanh hóa các ngành kinh tế thông qua đổi mới công nghệ và mô hình sản xuất; (3) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững trong toàn xã hội; và (4) Xây dựng hệ thống thể chế và chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh đồng bộ, hiệu quả.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành và địa phương đã cụ thể hóa chiến lược quốc gia thông qua việc ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh cấp tỉnh và tích hợp các nội dung xanh vào quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội.

Tính đến cuối năm 2023, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã có hơn 40 địa phương trong cả nước xây dựng kế hoạch hành động tăng trưởng xanh, trong đó nhiều tỉnh trọng điểm đã triển khai các dự án chuyển đổi xanh mang tính đột phá.

Một số thí dụ điển hình cho thấy xu hướng chuyển dịch tích cực sang mô hình kinh tế xanh tại Việt Nam. Ở lĩnh vực năng lượng tái tạo, các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đã trở thành trung tâm phát triển điện mặt trời và điện gió, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi và chính sách ưu đãi đầu tư. Tính đến năm 2023, tổng công suất điện mặt trời tại Ninh Thuận đã đạt gần 2.500MW, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu năng lượng tái tạo cả nước.

Trong ngành nông nghiệp, nhiều doanh nghiệp chế biến nông sản tại đồng bằng sông Cửu Long đã ứng dụng năng lượng sinh khối từ vỏ trấu, mía, rơm rạ để thay thế nhiên liệu hóa thạch, góp phần giảm phát thải và tiết kiệm chi phí sản xuất. Trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ, các ngành dệt may, da giày - vốn là ngành xuất khẩu mũi nhọn - cũng đã áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất sạch hơn, tái sử dụng nước và xử lý nước thải theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu môi trường khắt khe của các thị trường như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, quá trình triển khai tăng trưởng xanh tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức.

Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư xanh còn hạn chế, nhất là tại các địa phương và doanh nghiệp nhỏ và vừa, khiến việc chuyển đổi công nghệ và quy trình sản xuất gặp khó khăn.

Thứ hai, công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường tại Việt Nam còn lạc hậu và chi phí cao, dẫn đến rào cản trong việc tiếp cận và triển khai ở quy mô lớn.

Thứ ba, nhận thức của cộng đồng và doanh nghiệp về tăng trưởng xanh còn chưa đồng đều, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa coi đây là động lực tăng trưởng dài hạn mà chỉ là chi phí tuân thủ ngắn hạn.

Cuối cùng, hệ thống thể chế và chính sách hỗ trợ tăng trưởng xanh còn thiếu đồng bộ, chồng chéo và chưa tạo được cơ chế khuyến khích đủ mạnh, đặc biệt là về tín dụng xanh, thuế carbon, và định giá phát thải.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính hệ thống, trong đó nổi bật là việc hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển bền vững.

Cụ thể, Nhà nước cần xây dựng một khung pháp lý chặt chẽ và đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, như ban hành chính sách ưu đãi thuế, tín dụng và đất đai cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, năng lượng tái tạo và sản xuất tuần hoàn.

Đồng thời, việc thiết lập và thực thi các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt cũng góp phần định hướng lại hành vi sản xuất-tiêu dùng theo hướng bền vững hơn. Song song với đó, phát triển tài chính xanh là một trụ cột không thể thiếu. Cần thúc đẩy các công cụ như trái phiếu xanh, tín dụng xanh và quỹ đầu tư xanh, đồng thời lồng ghép các tiêu chí môi trường-xã hội-quản trị (ESG) vào hệ thống ngân hàng và định chế tài chính nhằm tạo ra dòng vốn ổn định cho các dự án thân thiện với môi trường.

Bên cạnh chính sách và tài chính, nâng cao nhận thức cộng đồng cũng là giải pháp có ý nghĩa lâu dài. Việc lồng ghép giáo dục về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững vào chương trình học, cùng với các chiến dịch truyền thông rộng khắp, sẽ giúp thay đổi hành vi của người tiêu dùng theo hướng tiêu dùng xanh, tiết kiệm tài nguyên và hạn chế rác thải.

Ngoài ra, tăng trưởng xanh cũng đòi hỏi Việt Nam phải mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong việc tiếp cận công nghệ cao, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực xanh, và học hỏi kinh nghiệm quản trị môi trường từ các quốc gia tiên tiến.

Việc tham gia sâu rộng vào các hiệp định môi trường toàn cầu và các sáng kiến khu vực sẽ góp phần nâng cao năng lực ứng phó của Việt Nam trước các thách thức xuyên biên giới, như: biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng hay an ninh nguồn nước.

Như vậy, tăng trưởng xanh chỉ có thể trở thành hiện thực khi có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chính sách, nguồn lực tài chính, công nghệ, cộng đồng xã hội và hợp tác quốc tế, từ đó hướng tới một nền kinh tế hiệu quả, thân thiện với môi trường và công bằng cho mọi thế hệ.

Có thể bạn quan tâm

Báo Công Thương chính thức mở chuyên mục AI Công Thương từ ngày 1/8. (Ảnh chụp màn hình)

Báo Công Thương chính thức mở chuyên mục AI Công Thương

Từ ngày 1/8, Báo Công Thương chính thức mở chuyên mục AI Công Thương, cung cấp thông tin về trí tuệ nhân tạo dưới góc nhìn công nghiệp, thương mại và năng lượng; đồng thời mời bạn đọc, chuyên gia, doanh nghiệp cùng tham gia xây dựng nội dung.

Các đại biểu bấm nút khai mạc Năm Lượng tử Gia Lai 2026.

Đón đầu làn sóng công nghệ chiến lược

Tỉnh Gia Lai phối hợp Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và chuyên gia công nghệ lượng tử Việt Nam (VNQuantum) cùng các tổ chức khoa học trong và ngoài nước tìm cách đón đầu, tiếp cận công nghệ mới, đưa thành tựu khoa học vào giải quyết những bài toán phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà (thứ 3 từ trái qua) khảo sát thực tế Dự án Bệnh viện đa khoa Cà Mau quy mô 1.200 giường.

Đồng hành gỡ “nút thắt”, nâng tầm y tế Cà Mau

Ngày 1/8, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Ngô Vũ Thăng cho biết, sau khi đến khảo sát thực tế Dự án Bệnh viện đa khoa Cà Mau quy mô 1.200 giường và Bệnh viện Sản-Nhi Cà Mau, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà, cùng đoàn công tác của bộ có buổi làm việc với tỉnh về công tác y tế sau hợp nhất tỉnh.

UAV được thử nghiệm vận chuyển nông sản tại tỉnh Điện Biên trong dự án phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và FPT hồi đầu tháng 3. (Ảnh: MST)

Gỡ điểm nghẽn đưa công nghệ ra thị trường

Việt Nam đã có đội ngũ doanh nghiệp công nghệ ngày càng lớn mạnh, song nhiều kết quả nghiên cứu và mẫu thử vẫn khó trở thành sản phẩm thương mại. Hoàn thiện hệ sinh thái từ nghiên cứu, thử nghiệm, vốn đến thị trường là điều kiện để chuyển hóa năng lực công nghệ thành giá trị kinh tế và sức cạnh tranh.

Đại diện Ban tổ chức thực hiện nghi thức khởi động Chiến dịch TinAI?

Xây dựng phản xạ kiểm chứng thông tin trong kỷ nguyên AI

Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo đang mở ra những cơ hội chưa từng có, đồng thời cũng đặt xã hội trước thách thức mới: Ranh giới giữa thật, giả ngày càng mong manh. Trong bối cảnh đó, việc kiểm chứng thông tin không còn là kỹ năng riêng của báo chí, mà đang trở thành năng lực công dân thiết yếu của mỗi người trong thời đại số.

ảnh cover Bài 2

Bài 2: Kiến tạo hệ sinh thái nghiên cứu

Phát triểnkhoa học cơ bản đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ về thể chế, cơ chế tài trợ, môi trường học thuật và hạ tầng nghiên cứu. Khi các nguồn lực được tổ chức hợp lý và đầu tư đủ dài hạn, các nhóm khoa học mới có điều kiện tích lũy tri thức, theo đuổi những hướng nghiên cứu lớn và từng bước tạo nền tảng cho công nghệ chiến lược.

Xác thực sinh trắc học là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm người chuyển SIM sang thiết bị mới là chính chủ thuê bao. (Ảnh: Viettel)

Viettel tiếp tục khuyến cáo khách hàng xác thực thuê bao khi đổi thiết bị

Ngày 30/7, Tổng công ty Viễn thông Viettel cho biết, theo Điều 8 Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất, khi SIM được chuyển sang thiết bị khác, chủ thuê bao cần thực hiện xác thực lại khuôn mặt (sinh trắc học) trong vòng 2 tiếng đồng hồ.

Nhóm nghiên cứu Bằng sáng chế “Annotation of Slice Images in Volumetric Medical Images”.

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhận bằng sáng chế châu Âu đầu tiên về AI ứng dụng trong y học

Chiều 30/7, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, Văn phòng Sáng chế châu Âu (European Patent Office-EPO) vừa cấp Bằng sáng chế số EP4432220 cho sáng chế “Annotation of Slice Images in Volumetric Medical Images” của nhóm nghiên cứu Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đại biểu thực hiện nghi thức ra mắt Cổng Thông tin điện tử thành phố và các trang thông tin điện tử thành phần.

Hà Nội ra mắt Cổng thông tin điện tử thành phố

Ngày 30/7, tại Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức Lễ ra mắt Cổng Thông tin điện tử thành phố và các trang thông tin điện tử thành phần. Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng của Thủ đô trong quá trình xây dựng chính quyền số, nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động điều hành, phục vụ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3. (Ảnh Đăng Khoa)

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Khi khoa học chính sách gặp gỡ thực tiễn

Dấu ấn nổi bật nhất của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV ở chỗ: nếu trước đây trọng tâm thường đặt vào việc xây dựng chủ trương và ban hành nghị quyết, thì nay yêu cầu đã chuyển mạnh sang năng lực tổ chức thực hiện, phản ánh bước phát triển trong tư duy cầm quyền của Đảng, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ mới.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).

Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc: Mở rộng không gian phát triển tạo động lực mạnh mẽ cho nền kinh tế Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới, trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân chung quanh chủ đề mở rộng không gian phát triển, một nội dung quan trọng đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết luận tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Tràn xả lũ hồ Dầu Tiếng, một hạng mục quan trọng trong hệ thống công trình thủy lợi Dầu Tiếng.

Giám sát chất lượng nước hồ Dầu Tiếng: Cơ sở khoa học cho những quyết định vận hành

Là một trong những hệ thống thủy lợi được theo dõi, dự báo chất lượng nước thường xuyên, hồ Dầu Tiếng không chỉ bảo đảm nguồn nước cho khu vực Đông Nam Bộ mà còn góp phần kiểm soát xâm nhập mặn trên sông Sài Gòn. Công tác quan trắc đang trở thành cơ sở khoa học quan trọng phục vụ vận hành công trình.

Ảnh đại diện

Khoa học cơ bản: Nền móng của năng lực tự chủ

Khoa học cơ bản tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa và mở đường cho các công nghệ chiến lược. Để lĩnh vực này thật sự trở thành nền móng của năng lực tự chủ quốc gia, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới thể chế, đầu tư dài hạn, nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu mạnh và chủ động hội nhập vào mạng lưới tri thức toàn cầu.