Trong bối cảnh đó, hoàn thiện thể chế không chỉ dừng ở việc ban hành văn bản mà cần chuyển hóa thành hiệu quả thực tiễn, được đo bằng mức độ hài lòng và lợi ích thực tế của người dân, doanh nghiệp.
Tiếp nối chuỗi đối thoại chính sách mới đây, Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội về những kiến nghị, đề xuất trong việc nâng cao hiệu quả thể chế và hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó chủ yếu đề cập tới những giải pháp cụ thể, dễ triển khai nhằm gia tăng minh bạch, cải thiện thực thi và đẩy mạnh đồng hành với doanh nghiệp.
Cần chuẩn hóa quy trình minh bạch trong tiếp nhận và giải trình ý kiến góp ý
Qua trao đổi, ông Phan Đức Hiếu chỉ ra một thực trạng, ý kiến đóng góp của doanh nghiệp, người dân vào các dự thảo luật vẫn có lúc, có nơi không được công khai rõ ràng về việc đã tiếp thu hay không và nếu không thì vì lý do gì. Điều này ít nhiều dẫn đến tâm lý nản lòng, thoái chí, ít phản biện và giảm chất lượng đầu vào cho quy phạm pháp luật.
Do đó, thiết nghĩ, cần xây dựng quy trình chuẩn cho mọi hồ sơ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo hướng công bố công khai danh sách các ý kiến tiếp nhận (bản tóm tắt) trên cổng thông tin của Quốc hội, Chính phủ dưới hình thức dự thảo. Với mỗi ý kiến quan trọng, bắt buộc cung cấp văn bản giải trình: “Tiếp thu hay Không tiếp thu kèm các lý do cụ thể”.
Với bối cảnh ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ như hiện nay, có thể gắn mã theo dõi cho từng ý kiến để người góp ý có thể tra cứu trạng thái (đã tiếp thu, đang xem xét, không tiếp thu).
Song song với đó là đưa ra thời hạn giải trình cụ thể cũng như công khai một bảng tiếp thu ý kiến kèm hồ sơ dự thảo khi trình Quốc hội/Ủy ban Thường vụ Quốc hội để đại biểu và công chúng có thể truy vấn.
Việc làm này góp phần gia tăng tính minh bạch, khuyến khích doanh nghiệp, chuyên gia tham gia phản biện, nâng cao tính thực tiễn và chất lượng quy phạm pháp luật.
Thực tế, có nhiều vướng mắc pháp luật cần xử lý nhanh nhưng quy trình sửa đổi luật mất nhiều thời gian. Vì lẽ đó, cần mở rộng sử dụng nghị quyết quy phạm (theo tinh thần Nghị quyết 206) như công cụ tạm thời để tháo gỡ những vướng mắc cấp bách, song đi kèm việc hạn chế thời gian hiệu lực (thí dụ 12-24 tháng) và buộc đánh giá tác động vào mốc thời hạn; Quy định rõ thẩm quyền ban hành, điều kiện áp dụng và lộ trình sửa đổi luật chính thức nếu cần; xem xét thành lập “Tổ công tác xử lý vướng mắc pháp luật” liên ngành (Quốc hội-Chính phủ-bộ chủ quản) để rà soát, đề xuất nghị quyết tạm thời khi có sự đứt gãy ảnh hưởng tới sản xuất-kinh doanh.
Nếu làm được như vậy, ông Phan Đức Hiếu cho rằng, sẽ giúp giảm thời gian chờ đợi cho doanh nghiệp, tạo hành lang pháp lý tạm thời ổn định đủ để doanh nghiệp hoạt động; vẫn bảo đảm trách nhiệm hoàn thiện thể chế theo quy trình chính thức.
Liên quan công tác giám sát và khảo sát mức độ hài lòng, ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh, đã đến lúc cần phải thay đổi thước đo hiệu quả. Hiện nay, việc giám sát vẫn đôi khi dừng ở “kiểm đếm” số văn bản ban hành thay vì đánh giá tác động thực tế tới đối tượng thụ hưởng.
Do đó, cần thiết phải xây dựng bộ chỉ số giám sát cho từng chính sách: số người/doanh nghiệp thụ hưởng, mức độ hài lòng (khảo sát định kỳ), chỉ số thời gian xử lý thủ tục, chi phí tuân thủ. Khi ban hành chính sách lớn, kèm “kế hoạch đánh giá sau ban hành” với mốc 6-12 tháng để thu thập dữ liệu thực tiễn và kiến nghị điều chỉnh.
Cũng có thể sử dụng nền tảng khảo sát trực tuyến công khai để thu thập phản hồi doanh nghiệp và người dân, kết nối dữ liệu này với báo cáo giám sát của Quốc hội. “Làm được như vậy, sẽ giúp tăng trách nhiệm giải trình của các cơ quan thực thi; giúp Quốc hội ra quyết sách điều chỉnh kịp thời; tạo áp lực tích cực để các cơ quan hành động hiệu quả”, ông Phan Đức Hiếu phân tích.
Thông tin rõ hơn về tầm quan trọng của sự đồng hành của lập pháp với nền kinh tế, nhất là đồng hành với doanh nghiệp, ông Phan Đức Hiếu cho rằng cần phải thấy phần lớn các phản ánh kiến nghị hiện nay của cộng đồng doanh nghiệp vẫn là trực tiếp lên bộ, ngành trong khi kênh Quốc hội vẫn còn ít và mang tính hình thức. Vì vậy, nên chăng có thể thiết lập một dạng diễn đàn doanh nghiệp-đại biểu” theo hình thức định kỳ (quý/năm) do Ủy ban chuyên môn của Quốc hội tổ chức, tập trung vào các ngành trọng yếu (năng lượng, logistics, nông sản xuất khẩu…).
Song song với đó là khuyến khích Ủy ban Dân nguyện và các Ủy ban khác của Quốc hội tổ chức phiên làm việc chuyên sâu, mời doanh nghiệp, hiệp hội, chuyên gia cùng thảo luận với đại biểu trước khi hoàn thiện dự thảo.
Ngoài ra, có thể thí điểm “đường dây phản ánh nhanh” của đại biểu chuyên trách (cổng thông tin/ứng dụng) để xử lý các vướng mắc cấp bách của doanh nghiệp trong vòng 7-15 ngày phối hợp cơ quan quản lý, từ đó, từng bước tăng tính kịp thời xử lý khó khăn cho doanh nghiệp; thúc đẩy văn hóa phản biện và đối thoại công khai giữa Quốc hội và cộng đồng doanh nghiệp.
Ứng dụng chuyển đổi số để minh bạch và nâng cao năng lực giám sát
Đánh giá chuyển đổi số ở một số kênh tiếp nhận phản hồi, minh bạch góp ý còn yếu, công cụ đo lường, tổng hợp dữ liệu chưa đồng bộ, Ủy viên Ủy ban Kinh tế-Tài chính của Quốc hội Phan Đức Hiếu thẳng thắn đề xuất, phải xây dựng nền tảng điện tử tích hợp (Quốc gia/Quốc hội) cho việc: Lấy ý kiến, tiếp nhận phản ánh, công khai bảng tiếp thu, khảo sát mức độ hài lòng, báo cáo giám sát.
Đồng thời, kết nối dữ liệu giữa cổng góp ý của bộ, nền tảng Ủy ban Dân nguyện và hệ thống giám sát của Quốc hội để tránh trùng lặp và tạo dòng thông tin một chiều minh bạch. Thêm nữa, phải ứng dụng bảng điều khiển công khai cho các chỉ số hoạt động chính sách (mức độ tiếp thu ý kiến, tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn, kết quả khảo sát hài lòng).
Theo ông Hiếu, việc làm trên có lợi ích to lớn vì sẽ rút ngắn thời gian xử lý thông tin, nâng cao khả năng phân tích dữ liệu cho giám sát, tăng cường minh bạch với công chúng; hướng tới văn bản pháp luật “dễ tuân thủ” và mời doanh nghiệp tham gia sớm hơn.
Phân tích thêm, ông Phan Đức Hiếu chỉ ra, một số văn bản có độ phức tạp cao, chi phí tuân thủ lớn trong doanh nghiệp chưa tham gia đủ sâu vào giai đoạn soạn thảo. Do đó, khi thiết kế các quy định tác động lớn, bắt buộc thực hiện tham vấn đa bên (bộ, doanh nghiệp, hiệp hội, chuyên gia) và đánh giá chi phí tuân thủ cũng như công bố báo cáo tác động dự thảo với phần mô tả chi phí tuân thủ và phương án giảm thiểu gánh nặng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Ngoài ra, còn phải khuyến khích trao đổi công khai, tổ chức thí điểm quy định ở quy mô địa phương/ngành trước khi mở rộng toàn quốc khi có rủi ro cao. “Khi đó, chúng ta có thể giảm rủi ro pháp lý và chi phí cho doanh nghiệp, tăng khả năng thực thi hiệu quả, luật ban hành phù hợp hơn với thực tiễn”, ông Hiếu nói.
Với việc xây dựng lộ trình và chỉ tiêu thực thi sẽ giúp rút ngắn “độ trễ” chính sách, ông Phan Đức Hiếu cho rằng, nhiều nghị quyết, chủ trương chậm thành hành động do văn bản hướng dẫn hoặc chương trình hành động bị trì hoãn. Vì thế, Chính phủ trình kèm “chương trình hành động cụ thể” khi đề xuất nghị quyết/luật, với mốc thời gian rõ ràng (Ai làm gì?Khi nào?Bằng công cụ gì?).
Ông Hiếu cũng khuyến nghị đẩy sớm thời điểm công bố chương trình hành động của Chính phủ có thể lên giữa quý III thay vì cuối quý III như thường lệ để giảm độ trễ triển khai.
Trên cơ sở đó, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ giám sát chặt mốc thời gian này và báo cáo định kỳ về tiến độ thực hiện. Khi đó, sẽ tăng tốc chuyển hóa chủ trương thành hành động, giảm thời gian chờ đợi của doanh nghiệp, tăng trách nhiệm của các cơ quan thi hành.
Có thể thấy, hoàn thiện thể chế không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan soạn thảo văn bản hay Quốc hội mà là nỗ lực liên tục của toàn bộ hệ thống chính trị, cùng với sự đồng hành chủ động của doanh nghiệp và sự giám sát từ người dân.
Việc minh bạch tiếp thu ý kiến, sử dụng nghị quyết tạm thời có kiểm soát, giám sát dựa trên kết quả, kênh đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp, ứng dụng chuyển đổi số, thiết kế quy định dễ tuân thủ, lộ trình hành động rõ ràng chính là các bước khả thi, có thể triển khai ngay để rút ngắn “độ trễ” chính sách và tạo lập hành lang pháp lý thật sự thông thoáng, ổn định và hướng tới phát triển bền vững.