Tiếp tục chuỗi đối thoại chính sách, Báo Nhân Dân mới đây đã có cuộc trao đổi với ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội khóa XV, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội về những bước chuyển trong tư duy xây dựng chính sách phát triển kinh tế qua các thời kỳ cũng như việc thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh mới.
Đổi mới tư duy lập pháp khơi thông nguồn lực phát triển
Theo ông Phan Đức Hiếu, các nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, đặc biệt là nhiệm kỳ khóa XV ghi nhận sự thay đổi rõ nét trong tư duy về cải cách, hoàn thiện thể chế và xây dựng pháp luật, không chỉ của riêng Quốc hội hay Chính phủ mà là tư duy chung của Đảng và Nhà nước.
Những tư duy mới được cụ thể hóa rất rõ trong văn kiện ở tầm cao nhất của Bộ Chính trị cũng như các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, chẳng hạn như tư duy về quyền tự do kinh doanh, người dân được làm những gì pháp luật không cấm, tư duy từ nhà nước quản lý sang nhà nước kiến tạo, hay tư duy về xóa bỏ các rào cản, cắt giảm chi phí…
Cùng với đó, yêu cầu về cải cách thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật được đặt ra ở mức độ cao hơn rất nhiều, thậm chí là cao hơn kỳ vọng của chuyên gia. “Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu xóa bỏ 50% các điều kiện kinh doanh, các rào cản với doanh nghiệp. Nghị quyết số 244 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2026 thậm chí đưa ra yêu cầu mạnh mẽ và quyết liệt hơn - xóa bỏ toàn bộ rào cản, điều kiện kinh doanh không cần thiết”, ông Phan Đức Hiếu nêu rõ.
Kèm theo các nội dung yêu cầu về đổi mới tư duy xây dựng thể chế, vấn đề cốt lõi được chuyên gia của Ủy ban Kinh tế và Tài chính chỉ ra là làm thế nào để những yêu cầu, định hướng đó được triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi hàng loạt nghị quyết mới được ban hành với nhiều nội dung mang tính đột phá, thậm chí là lần đầu tiên xuất hiện.
Dẫn thí dụ Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, ông Hiếu cho biết xác định đầu tư cho công tác xây dựng chính sách, pháp luật là đầu tư cho phát triển, Nghị quyết đã đưa ra rất nhiều giải pháp bảo đảm nguồn lực cho hoạt động xây dựng pháp luật, trong đó không chỉ chú trọng đến đội ngũ trực tiếp làm công tác lập pháp mà còn đề cập đến chi phí cho quá trình tham vấn, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là lần đầu tiên chúng ta có một cơ chế, chính sách tương đối đầy đủ nhằm hiện thực hóa tư duy “đầu tư cho thể chế”.
Ngoài ra, Quốc hội cũng ban hành Nghị quyết số 206 quy định cơ chế đặc biệt để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật.
Trước đây, khi phát sinh mâu thuẫn giữa các quy định, việc sửa đổi phải thực hiện từng bước, sửa từng văn bản theo đúng thẩm quyền và quy trình, dẫn đến kéo dài thời gian và giảm hiệu quả thực thi. Tuy nhiên, với Nghị quyết 206, một cơ chế linh hoạt đã được thiết lập: Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ có thể ban hành nghị quyết để kịp thời xử lý các vướng mắc trong quy định pháp luật trong một thời hạn nhất định, trước khi tiến hành sửa đổi chính thức.
“Cách làm này giúp rút ngắn đáng kể thời gian, nâng cao tính kịp thời và hiệu quả của hệ thống pháp luật”, ông Phan Đức Hiếu khẳng định.
Quốc hội chủ động, linh hoạt, đáp ứng yêu cầu “thể chế phải đi trước mở đường”
Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhiều lần nhấn mạnh, công tác hoàn thiện thể chế pháp luật phải mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đất nước. Phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật: chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, từ “bị động sang chủ động”. Pháp luật phải góp phần đánh thức mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước, nắm bắt mọi cơ hội phát triển.
Tư duy lập pháp chủ động, kiến tạo đã được thể hiện rất rõ và chuyển hóa thành hành động cụ thể trong hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là nhiệm kỳ khóa XV vừa qua. Một trong những điểm nổi bật, theo ông Phan Đức Hiếu, là Quốc hội đã tạo ra nhiều “tiền lệ” mới trong hoạt động của mình, đặc biệt trong công tác lập pháp và giám sát. Nhiều cách làm trước đây chưa từng có, nhưng nay được triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và bám sát chủ trương đổi mới tư duy trong công tác xây dựng pháp luật.
Trước hết, đó là sự quyết liệt và kịp thời trong hành động, với yêu cầu thể chế phải đi trước, mở đường cho phát triển. Quốc hội không còn hoạt động đơn thuần theo chương trình, kế hoạch cố định mà linh hoạt hơn để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, với sự xuất hiện khái niệm “kỳ họp bất thường”. Thực tế cho thấy các kỳ họp này có nội dung, khối lượng công việc gần tương đương với kỳ họp thường lệ, nhưng thể hiện sự chuyển đổi rất mạnh mẽ, đó là tính kịp thời, tính quyết liệt trong xây dựng và hoàn thiện thể chế.
Minh chứng từ Luật Đất đai, chuyên gia của Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho biết lần đầu tiên Quốc hội thông qua một đạo luật sửa đổi chỉ nhằm rút ngắn thời gian có hiệu lực thi hành của một luật. Việc điều chỉnh để Luật Đất đai 2024 có hiệu lực sớm hơn 4 tháng cho thấy sự chủ động, quyết liệt của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn.
Bên cạnh đó, tư duy về tính ổn định của pháp luật cũng có sự thay đổi. Trước đây, việc sửa đổi luật trong thời gian ngắn sau khi ban hành thường khiến nhiều người e ngại, lo ảnh hưởng đến tính ổn định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay quan điểm đã rõ ràng: nếu việc sửa đổi giúp tạo ra một khuôn khổ pháp lý tốt hơn, có lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp thì không có lý do gì phải chần chừ.
“Khi luật pháp tốt hơn, mang lại tác động tích cực hơn thì Quốc hội hành động. Nói cách khác, lợi ích thực chất được đặt lên trên những băn khoăn mang tính hình thức. Tất nhiên, Quốc hội không hành động một mình mà có sự phối hợp của tất cả các cơ quan có liên quan”, ông Phan Đức Hiếu chia sẻ.
Quan điểm hiện nay đã rõ ràng: Nếu việc sửa đổi luật giúp tạo ra một khuôn khổ pháp lý tốt hơn, có lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp thì không có lý do gì phải chần chừ.
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội
Một điểm đáng chú ý nữa trong tư duy lập pháp kiến tạo là Quốc hội đã thông qua nhiều nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn. Đây có thể xem là một “sản phẩm” đặc trưng của nhiệm kỳ khóa XV. Trong khi chờ đợi tổng kết, sửa đổi luật theo quy trình đầy đủ, những vướng mắc cụ thể, cấp bách đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời. Các nghị quyết này vì thế đóng vai trò như một công cụ linh hoạt, giúp khơi thông các điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu “thể chế phải đi trước, mở đường cho phát triển và xóa bỏ mọi rào cản”.
“Cần khẳng định rằng sự chuyển biến này không chỉ là nỗ lực của riêng Quốc hội, mà là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành. Tuy nhiên, có thể thấy rõ một điều: từ thay đổi về tư duy, Quốc hội đã nhanh chóng chuyển hóa thành những hành động cụ thể, thiết thực, góp phần thúc đẩy quá trình kiến tạo phát triển trong thực tiễn”, ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh.
Giám sát thực chất, đo lường bằng kết quả và mức độ hài lòng
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 trong đó đưa ra các định hướng then chốt về phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. Yêu cầu đặt ra là Quốc hội cần thể chế hóa như thế nào để các chủ trương này thực sự đi vào cuộc sống, tránh tình trạng “chủ trương đúng nhưng thực thi chậm hoặc thiếu hiệu quả”.
Trong các cuộc làm việc, Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhiều lần đề cập một “điểm nghẽn” trong quá trình xây dựng thể chế, đó là tình trạng nghị quyết chậm thể chế hóa và thực thi chưa hiệu quả. Không ít trường hợp nghị quyết ban hành nhưng chậm được cụ thể hóa thành pháp luật, và khi đã có văn bản pháp luật thì khâu tổ chức thực hiện lại tiếp tục bị chậm, thậm chí yếu.
Thước đo thành công hay thất bại của một chủ trương, chính sách không phải là số lượng văn bản ban hành, mà là mức độ hài lòng và lợi ích thực tế mà người dân, doanh nghiệp nhận được.
Vấn đề này đã được Quốc hội quán triệt rất rõ ràng vào trong hoạt động lập pháp, đó là phải thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và đúng tinh thần các nghị quyết của Trung ương, đồng thời khi có văn bản pháp luật thì phải bảo đảm việc thực thi đến cùng. Thước đo thành công hay thất bại của một chủ trương, chính sách không phải là số lượng văn bản ban hành, mà là mức độ hài lòng và lợi ích thực tế mà người dân, doanh nghiệp nhận được.
Theo ông Phan Đức Hiếu, một nghị quyết của Bộ Chính trị không thể được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng biệt, mà phải được thể chế hóa trong hệ thống các luật có liên quan, tùy từng nội dung, từng yêu cầu. Điểm đáng chú ý là với mỗi nghị quyết được Trung ương ban hành, Quốc hội đã nhanh chóng thông qua các nghị quyết mang tính quy phạm để thể chế hóa ngay những nội dung cấp bách. Nghị quyết đề ra một số giải pháp có thể được triển khai ngay do mang tính quy phạm, đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ, các bộ, ngành tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết.
“Tinh thần làm việc khẩn trương, “cuốn chiếu” là một điểm nhấn nổi bật của Quốc hội trong nhiệm kỳ vừa qua” - ông Phan Đức Hiếu nêu rõ. Chẳng hạn, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, chỉ trong khoảng hơn 10 ngày, Quốc hội đã thông qua một nghị quyết (Nghị quyết 198) để kịp thời thể chế hóa các nội dung liên quan. Đây là cách làm hoàn toàn khác so với trước đây, khi quy trình thường kéo dài và phụ thuộc nhiều vào chương trình nghị sự cố định.
“Theo thông lệ đầu kỳ họp Quốc hội thảo luận, cuối kỳ họp mới thông qua. Nhưng bây giờ theo tinh thần khẩn trương, “cuốn chiếu”, những nội dung đã chín, đã rõ, đã bảo đảm chất lượng thì trình thông qua ngay, qua đó rút ngắn tối đa thời gian để chính sách đi vào cuộc sống. Điều này thể hiện rõ tư duy hành động nhanh, kịp thời phục vụ yêu cầu phát triển”, ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh.
Tuy nhiên, chuyên gia của Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng cho rằng, việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách không dừng lại ở nghị quyết của Quốc hội. Khâu then chốt vẫn là việc ban hành các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, với hai yêu cầu lớn cần đặt ra: kịp thời và đúng tinh thần cải cách.
Thực tế cho thấy, có những trường hợp chủ trương rất thông thoáng, nhưng khi triển khai trên thực tế lại phát sinh thêm thủ tục, điều kiện, làm giảm hiệu quả chính sách. Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ và các cơ quan liên quan cần quyết liệt hơn nữa trong việc ban hành văn bản hướng dẫn, với tinh thần không chỉ “đúng thời hạn” mà phải càng sớm càng tốt, rút ngắn tối đa độ trễ chính sách để tạo tác động thực tế cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Về phía Quốc hội, ông Phan Đức Hiếu nhấn mạnh cần tiếp tục tăng cường vai trò giám sát, không chỉ giám sát tiến độ ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải đi sâu giám sát cả chất lượng, nội dung công tác tổ chức thi hành, bảo đảm các nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Đối với các nghị quyết lớn về phát triển kinh tế như Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79, ông Phan Đức Hiếu cho rằng vẫn còn nhiều việc phải tiếp tục triển khai để thể chế hóa đầy đủ tinh thần các nghị quyết nhằm tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Theo ông, việc thể chế hóa các nghị quyết này không thể thực hiện chỉ bằng một đạo luật riêng lẻ, mà đòi hỏi phải rà soát, sửa đổi đồng bộ trong toàn bộ hệ thống pháp luật có liên quan. Những mục tiêu, giải pháp và tinh thần của nghị quyết phải được “thẩm thấu” vào từng quy định cụ thể của các luật, nghị định, thông tư… liên quan đến từng lĩnh vực. Đây không phải là công việc làm một lần, mà là quá trình liên tục, phải được cập nhật theo bối cảnh và yêu cầu phát triển mới.
“Một quy định hôm nay có thể đã được xem là thông thoáng, nhưng trong điều kiện mới lại có thể chưa thực sự thông thoáng, cởi mở, chưa khơi thông được nguồn lực. Vì vậy, công tác hoàn thiện thể chế cần được thực hiện với tinh thần khẩn trương hơn, quyết liệt hơn, đồng thời cũng phải mang tính động và thích ứng cao”, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính nêu rõ.
Chính sách dù đúng và tốt đến đâu nhưng nếu khâu thực thi không hiệu quả thì cũng khó đi vào cuộc sống.
Ông Phan Đức Hiếu lưu ý, bên cạnh thể chế hóa, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, một vấn đề đặc biệt quan trọng là tổ chức thực thi. Trong đó, vai trò của các bộ, ngành và đặc biệt là chính quyền địa phương là then chốt. Chính sách dù đúng và tốt đến đâu nhưng nếu khâu thực thi không hiệu quả thì cũng khó đi vào cuộc sống.
Yêu cầu đặt ra đối với khâu tổ chức thực thi là phải bảo đảm tính hiệu quả, dễ tiếp cận, công bằng và minh bạch. Ông Phan Đức Hiếu cho rằng, công tác giám sát trong thời gian tới cần chuyển mạnh sang đánh giá kết quả thực chất thay vì chỉ dừng lại ở việc “kiểm đếm” số lượng văn bản đã ban hành. Cụ thể, phải trả lời được các câu hỏi: có bao nhiêu đối tượng đã thực sự được thụ hưởng chính sách? Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp ra sao? Chính sách đã tạo ra tác động cụ thể như thế nào đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh? Và với những đối tượng chưa tiếp cận được, nguyên nhân là gì?
“Việc đo lường bằng kết quả và mức độ hài lòng sẽ tạo ra áp lực tích cực đối với các cơ quan thực thi, buộc các cơ quan này phải hành động quyết liệt và hiệu quả hơn trong triển khai các chủ trương, chính sách, thay vì chỉ hoàn thành về mặt thủ tục”, chuyên gia của Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh.