Phát triển vùng gắn với chất lượng sống của người dân

Với mục tiêu tăng GRDP bình quân 9-11%/năm tại 6 vùng kinh tế-xã hội, Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với bảo đảm giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường, nâng cao chất lượng sống của người dân. Sức chống chịu qua đó trở thành một yếu tố quan trọng trong năng lực cạnh tranh vùng.

Nâng cao chất lượng dịch vụ công góp phần cải thiện chất lượng sống của người dân và thúc đẩy phát triển vùng bền vững. (Ảnh: VL)
Nâng cao chất lượng dịch vụ công góp phần cải thiện chất lượng sống của người dân và thúc đẩy phát triển vùng bền vững. (Ảnh: VL)

Tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, sáng 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu “phát triển vùng phải gắn kinh tế với văn hóa, xã hội, an sinh, môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu của từng vùng và cả nền kinh tế”.

Đặt trong tổng thể các nhiệm vụ mà Bộ Chính trị đã đề ra trong Nghị quyết số 27-NQ/TW cho thấy, yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia không đơn thuần nhằm tạo thêm dư địa tăng trưởng, mà còn phải xử lý những sức ép về môi trường, nguồn nước, dân số, đô thị và khả năng cung ứng dịch vụ xã hội. Theo đó, phát triển vùng được đặt trong một cấu trúc rộng hơn. Bên cạnh các chỉ tiêu về GRDP, cơ cấu kinh tế và đô thị hóa, Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác lập các mục tiêu về tuổi thọ, thời gian sống khỏe, bảo hiểm y tế, bác sĩ trên một vạn dân, chỉ số phát triển con người, giảm nghèo, xử lý nước thải, độ che phủ rừng và xây dựng nông thôn mới. Đây là cách tiếp cận coi chất lượng con người, điều kiện sống và nền tảng sinh thái là bộ phận trực tiếp của quá trình phát triển.

Tăng trưởng không thể vượt ngưỡng chịu tải

Thực tế, 6 vùng kinh tế-xã hội hiện đang đứng trước những rủi ro khác nhau, cụ thể như: suy giảm rừng đầu nguồn và đa dạng sinh học ở miền núi; ô nhiễm, chất thải và quá tải hạ tầng tại các vùng đô thị-công nghiệp; bão, lũ, hạn hán, sạt lở ở miền trung và Tây Nguyên; sụt lún, xâm nhập mặn, suy giảm nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long. Các rủi ro này có thể phá vỡ chuỗi sản xuất, làm giảm tuổi thọ công trình, tăng chi phí kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế.

Điểm mới đáng chú ý của Nghị quyết số 27-NQ/TW là yêu cầu tổ chức không gian phát triển trong giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường. Theo đó, một dự án hay khu vực phát triển không thể chỉ được xem xét trên khả năng tạo ra sản lượng, việc làm và nguồn thu, mà phải tính đến nhu cầu sử dụng đất, nước, năng lượng; lượng chất thải phát sinh; sức ép lên hạ tầng đô thị và khả năng phục hồi của hệ sinh thái.

Đến năm 2030, Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt mục tiêu 100% khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động tại cả 6 vùng có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; tỷ lệ che phủ rừng được xác định theo đặc điểm từng vùng. Đây không phải các chỉ tiêu đứng ngoài tăng trưởng, bởi rừng, nguồn nước và chất lượng môi trường quyết định khả năng duy trì lâu dài của nhiều ngành kinh tế.

Ông Bùi Chí Kiên, Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng môi trường cần được nhìn nhận như một loại vốn chiến lược của quốc gia. Theo đó, đô thị xanh vừa cải thiện chất lượng sống, vừa tạo sức hút đối với đầu tư, nhân lực chất lượng cao và các ngành công nghiệp sáng tạo. Chính vì vậy, việc bảo vệ môi trường không đơn thuần là khoản chi xử lý hậu quả, mà còn là đầu tư cho năng lực tăng trưởng dài hạn.

img-6154.jpg
Không gian xanh và các tiện ích công cộng góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân đô thị. (Ảnh: VL)

Quan điểm này được ông Bùi Chí Kiên chia sẻ trước thời điểm cấp có thẩm quyền ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW nhưng lại rất đồng nhất với yêu cầu “quản trị nguồn nước được đặt ở vị trí đặc biệt” khi nghị quyết quan trọng này yêu cầu xây dựng hệ thống điều hành dựa trên dữ liệu thời gian thực, liên kết hồ chứa, thủy lợi, thủy điện, cấp nước, chống ngập và kiểm soát xâm nhập mặn. Theo đó, với cách tiếp cận này, công tác quản lý nguồn nước đã được chuyển từ xử lý từng công trình, từng địa bàn sang theo dõi cả hệ thống, qua đó hỗ trợ ra quyết định sớm khi xuất hiện hạn hán, mưa lớn, ngập lụt hoặc thiếu nước cho sản xuất.

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, các đô thị ven biển, trung tâm công nghiệp và cụm cảng lớn, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu có chương trình, tiêu chuẩn chống chịu riêng, kết hợp công trình kỹ thuật với hạ tầng tự nhiên. Điều này đặc biệt quan trọng, bởi chỉ gia cố công trình mà không phục hồi rừng ngập mặn, hành lang thoát lũ, mặt nước và các vùng hấp thụ tự nhiên có thể làm tăng chi phí nhưng chưa chắc giảm được rủi ro tổng thể.

Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” ngày 20/8, khi trao đổi về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ Giang Thanh Long, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, đã lưu ý, biến đổi khí hậu không thể nằm ngoài các dự báo phát triển và tăng trưởng kinh tế.

Quan điểm này cho thấy nếu rủi ro khí hậu chỉ được xử lý như vấn đề môi trường riêng biệt, các kế hoạch tăng trưởng có thể được xây dựng trên những giả định thiếu bền vững. Vì vậy, sức chống chịu cần được đưa vào toàn bộ quá trình quy hoạch, lựa chọn dự án và đánh giá hiệu quả đầu tư. Chi phí phòng ngừa thiên tai, bảo vệ nguồn nước và phục hồi hệ sinh thái không nên chỉ được nhìn như khoản chi làm giảm nguồn lực tăng trưởng. Ngược lại, đó là đầu tư để giảm thiệt hại, bảo vệ tài sản xã hội và duy trì tính liên tục của hoạt động kinh tế.

Chất lượng sống quyết định sức cạnh tranh vùng

Khi các vùng kinh tế, cực tăng trưởng và đô thị lớn thu hút thêm đầu tư, sức chịu tải không chỉ thuộc về môi trường tự nhiên, mà tác động theo hướng tăng cao đối với các vấn đề như: lao động và dân cư, áp lực lên nhà ở, giao thông, trường học, bệnh viện, cấp nước, xử lý chất thải và dịch vụ an sinh… Do vậy, nếu hạ tầng xã hội không theo kịp yêu cầu phát sinh từ hạ tầng sản xuất, chi phí sinh hoạt cao, thời gian đi lại kéo dài và chất lượng dịch vụ suy giảm sẽ làm giảm sức hấp dẫn của vùng.

Trình bày những nội dung trọng tâm của Nghị quyết số 27-NQ/TW tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, sáng 3/9, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho biết, mục tiêu đến năm 2045 là xây dựng ít nhất năm đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Nghị quyết ưu tiên phát triển hai cực tăng trưởng lớn nhất là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời định hướng phát triển các mô hình đô thị xanh, đô thị thông minh, đô thị nén.

Tuy nhiên, tầm cỡ quốc tế của một đô thị không chỉ được thể hiện qua quy mô kinh tế, các tòa nhà hay hệ thống giao thông. Năng lực cạnh tranh còn nằm ở khả năng cung cấp môi trường sống an toàn, dịch vụ y tế và giáo dục chất lượng, không gian văn hóa, chất lượng không khí, khả năng thích ứng với thiên tai và cơ hội tiếp cận bình đẳng cho người dân.

Chia sẻ với quan điểm này, Tiến sĩ Trần Triết, Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng, đã đến lúc không chỉ đo thành công của phát triển bằng chỉ số GDP hay tốc độ tăng trưởng, mà cần nhìn cả chất lượng không khí, nguồn nước, mức độ an toàn của thực phẩm, không gian xanh và khả năng chống chịu của thiên nhiên, cộng đồng trước thiên tai, biến đổi khí hậu.

Tiến sĩ Trần Triết lưu ý, vấn đề phát triển con người không tự nhiên đến cùng với tăng trưởng kinh tế mà cần những khoản đầu tư dài hạn cho sức khỏe cộng đồng và chất lượng sống.

img-6152.jpg
Phát triển mạng lưới y tế cơ sở giúp người dân tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.(Ảnh: VL)

Cách nhìn này phù hợp với hệ thống chỉ tiêu xã hội, môi trường mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra cho từng vùng đến năm 2030. Cụ thể, Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định phát triển hệ thống y tế vùng theo hướng toàn diện, đồng bộ, hiện đại và kết nối; lấy y tế dự phòng là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng, y tế chuyên sâu là động lực. Sức khỏe, nhà ở và giáo dục là các cấu phần của năng lực phát triển, bởi chúng quyết định chất lượng lao động và khả năng giữ chân nhân lực có kỹ năng.

Bởi theo Giáo sư, Tiến sĩ Giang Thanh Long, Việt Nam đang đồng thời trải qua thời kỳ dân số vàng và quá trình già hóa nhanh; đô thị hóa gắn với di cư làm thay đổi cấu trúc dân số ở cả thành thị và nông thôn. Chuyển đổi số mở thêm cơ hội nhưng cũng có nguy cơ tạo ra khoảng cách mới giữa các nhóm dân cư. Theo ông, không thể tách bài toán phát triển kinh tế khỏi an sinh xã hội và hệ thống y tế.

Những biến động này biểu hiện khác nhau ở từng vùng. Các trung tâm công nghiệp, dịch vụ có thể thiếu nhà ở, trường học và dịch vụ chăm sóc cho lao động nhập cư; vùng xuất cư có nguy cơ thiếu lao động trẻ và gia tăng tỷ lệ người cao tuổi. Quy hoạch vì thế phải dự báo cả cơ cấu, hướng dịch chuyển dân số và nhu cầu dịch vụ, đồng thời thu hẹp khoảng cách giáo dục, tạo điều kiện đào tạo lại lao động trước tác động của tự động hóa và chuyển đổi số.

Từ một góc nhìn khác, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, chỉ ra, do sự phân hóa thu nhập giữa các vùng, miền còn lớn, trong khi tác động tích cực của tăng trưởng đối với giảm nghèo và cải thiện các chỉ tiêu phát triển con người có xu hướng giảm. Điều này cảnh báo rằng tăng GRDP chưa chắc tự động chuyển thành tiến bộ xã hội với mức độ tương ứng. Vì thế, hiệu quả phát triển vùng cần được nhìn qua khả năng người dân tiếp cận việc làm, giáo dục, y tế, nhà ở, văn hóa và môi trường sống an toàn. Mục tiêu cuối cùng không phải giữ người dân ở lại bằng mọi giá hay tiếp tục hút dân về các đô thị lớn, mà tạo điều kiện để mỗi người có nhiều lựa chọn sinh sống và làm việc hơn, không bị hạn chế cơ hội vì nơi cư trú.

Đây cũng chính là yêu cầu quan trọng mà trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh: “Giá trị văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà Nhân dân cảm nhận được”.

Theo đó, mục tiêu phát triển vùng cần được cụ thể hóa bằng những kết quả thiết thực như nguồn nước an toàn hơn, môi trường sống được cải thiện, thiệt hại do thiên tai giảm, dịch vụ công thuận lợi hơn và người dân có thêm cơ hội phát triển. Bởi Nghị quyết số 27-NQ/TW không chỉ mở ra không gian tăng trưởng lớn cho 6 vùng kinh tế-xã hội, mà đồng thời cũng đã đặt ra những giới hạn và trách nhiệm rõ ràng hơn. Đó là, tăng trưởng nhanh chỉ bền vững khi không làm suy giảm nền tảng tài nguyên, không đẩy hạ tầng xã hội vào tình trạng quá tải và không để một bộ phận người dân đứng ngoài thành quả phát triển.

Trên tinh thần đó, khi sức chống chịu về môi trường và xã hội được coi là một phần của năng lực cạnh tranh, mỗi vùng kinh tế-xã hội mới có thể phát triển nhanh mà vẫn duy trì được dư địa cho các thế hệ tiếp theo.

Có thể bạn quan tâm

Dây chuyền sản xuất rượu chuối mốc bản địa của Hợp tác xã Sơn Bua. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Đổi mới chế biến và bảo quản nông sản

Sau hợp nhất, không gian phát triển của ngành nông nghiệp Quảng Ngãi rộng lớn, sở hữu lợi thế đặc thù: Kinh tế biển-rừng. Với mục tiêu đưa sản phẩm nông nghiệp vươn xa, tỉnh xác định đổi mới sáng tạo trong chế biến và bảo quản nông sản là “chìa khóa” chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp.

Sản xuất thép tại nhà máy của Tập đoàn Hòa Phát. (Ảnh: ĐỨC DŨNG)

Kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm

Luật Công nghiệp trọng điểm được xây dựng nhằm thúc đẩy, kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm phù hợp bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Ngành thuế đẩy mạnh rà soát, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế. (Ảnh: Minh Phương)

Làm sạch mã số thuế, phản ánh đúng trạng thái doanh nghiệp

Gần 600.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký tính đến tháng 6/2026. Xử lý hồ sơ tồn đọng cần vừa tháo gỡ nhanh cho doanh nghiệp tuân thủ, vừa sàng lọc các trường hợp lợi dụng pháp nhân để vi phạm pháp luật.

(Ảnh: TTXVN)

Chứng khoán ngày 9/9: Vn-Index đảo chiều giảm điểm, áp lực bán dâng cao cuối phiên

Phiên giao dịch ngày 9/9, thị trường chứng khoán Việt Nam đóng cửa trong sắc đỏ do sức ép từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn, đặc biệt là bất động sản và chứng khoán. Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng và năng lượng duy trì sắc xanh, góp phần nâng đỡ thị trường. Chốt phiên, VN-Index giảm 3,32 điểm, xuống mức 1.827,12 điểm.

(Ảnh: HNV)

Đổi mới tư duy phát triển, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới

Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển trọng tâm sang năng suất, năng lực nội sinh, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, chuyển đổi số-xanh, chất lượng thể chế, phát triển con người. Đổi mới mô hình phát triển vì thế là đổi mới tư duy, cách phân bổ nguồn lực, mô hình doanh nghiệp, phương thức quản trị và thước đo thành công.

Hơn 100 sản phẩm đặc trưng của Cao Bằng sẽ được giới thiệu tại “Sức sống hàng Việt”. (Ảnh: Cục Quản lý thị trường)

Đặc sản Cao Bằng xuống phố Tràng Tiền

Miến dong Phia Đén, bánh khảo, lạp sườn, thạch đen, mật ong người Tày, hạt dẻ Quây Sơn, măng khô Bảo Lạc, dao Phúc Sen… hơn 100 sản phẩm đặc trưng của Cao Bằng sẽ được giới thiệu tại “Sức sống hàng Việt” số 13, từ ngày 11-13/9 tại 62 Tràng Tiền, Hà Nội.

Lễ khai mạc VITW 2026 diễn ra ngày 9/9, mở đầu cho ba ngày triển lãm và hội nghị tại VEC. (Ảnh: BTC cung cấp)

VITW 2026 quy tụ hơn 2.000 gian hàng công nghiệp và công nghệ

Diễn ra trong 3 ngày (9-11/9), Tuần lễ Công nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2026 (VITW 2026) kết nối các hoạt động trưng bày, trình diễn công nghệ với các hội nghị chuyên ngành và giao thương, qua đó cập nhật những xu hướng đang định hình ngành công nghiệp toàn cầu.