Phát huy sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản vật vùng cao

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, phát huy sức cầu nội địa ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng, duy trì sản xuất, phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và bảo đảm sinh kế cho người dân.

Sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Lạng Sơn” vào năm 2024, sản phẩm có thêm lợi thế trong quảng bá, xúc tiến và kết nối thị trường. (Ảnh: Cục Quản lý thị trường)
Sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Lạng Sơn” vào năm 2024, sản phẩm có thêm lợi thế trong quảng bá, xúc tiến và kết nối thị trường. (Ảnh: Cục Quản lý thị trường)

Ngày 5/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 88/NQ-CP về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Nghị quyết xác định phát triển mạnh thị trường nội địa, tăng cường sức mua của người dân và doanh nghiệp là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời coi sản xuất trong nước là nền tảng bền vững để cung ứng hàng hóa cho thị trường nội địa.

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đây là một dư địa lớn. Nhiều sản phẩm được tạo nên từ nguồn nguyên liệu bản địa, tri thức sản xuất và những giá trị văn hóa riêng của cộng đồng. Trong xu hướng tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc, tính tự nhiên và câu chuyện phía sau sản phẩm, những yếu tố này có thể trở thành lợi thế cạnh tranh.

Những không gian cần tập trung khai thác sức mua

Tại tọa đàm “Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công thương tổ chức ngày 3/9, từ góc độ phát triển thị trường, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công thương cho rằng, 5 không gian có thể ưu tiên đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Trước hết là hệ thống phân phối hiện đại tại các đô thị và trung tâm tiêu dùng lớn. Tuy nhiên, điều kiện đi kèm là sản phẩm phải chuẩn hóa về chất lượng, bao bì, dữ liệu và nguồn cung. Bên cạnh đó là thương mại điện tử, mạng xã hội và các nền tảng bán hàng đa kênh. Đây được xem là cơ hội để những sản phẩm ở vùng xa tiếp cận trực tiếp người mua, đồng thời truyền tải câu chuyện về nguồn gốc, bản sắc và dữ liệu xác thực của sản phẩm.

Ngoài ra, thị trường gắn với du lịch văn hóa, du lịch trải nghiệm, từ điểm du lịch cộng đồng, khách sạn, nhà hàng đến sân bay, ga tàu, điểm dừng chân, bảo tàng và trung tâm văn hóa. Ở đây, giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở bản thân hàng hóa, mà còn ở trải nghiệm và câu chuyện bản địa đi kèm. Các phân khúc quà tặng, chăm sóc sức khỏe, tiêu dùng xanh và tiêu dùng có trách nhiệm - những lĩnh vực mà người mua quan tâm đồng thời đến chất lượng, môi trường, sinh kế cộng đồng và bản sắc văn hóa.

ndo_br_img-1903.jpg
5 không gian có thể ưu tiên đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trước hết là hệ thống phân phối hiện đại tại các đô thị và trung tâm tiêu dùng lớn. (Ảnh: Cục Quản lý thị trường)

Cuối cùng là thị trường tại chỗ và thương mại hai chiều ở miền núi, vùng biên giới. Phát triển thị trường không chỉ là đưa đặc sản từ miền núi xuống đô thị, mà còn phải bảo đảm hàng hóa thiết yếu, hàng Việt chất lượng với giá hợp lý đến với người dân vùng miền núi, nông thôn.

Điểm đáng chú ý là không phải sản phẩm nào cũng cần tìm cách vào siêu thị hay bán đại trà. Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, điều quan trọng hơn là lựa chọn đúng phân khúc, đúng quy mô và đúng câu chuyện của sản phẩm. Đây cũng chính là cách tiếp cận phù hợp với đặc thù của sản phẩm vùng cao. Nếu cố gắng áp một mô hình phân phối cho mọi sản phẩm, lợi thế bản địa có thể bị hòa tan, trong khi năng lực sản xuất của các hợp tác xã, hộ gia đình chưa chắc đáp ứng được những yêu cầu của thị trường đại trà.

Tuy nhiên, theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, điểm nghẽn lớn không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm hay vùng nguyên liệu mà còn ở năng lực tổ chức và tư duy thị trường của hợp tác xã. Muốn có đơn hàng ổn định, hợp tác xã phải nâng năng lực toàn diện, từ tổ chức thành viên, quản trị, công nghệ, logistics, thương hiệu, bao bì, truyền thông đến bảo quản và xử lý rủi ro. Quan trọng hơn, cần chuyển từ tư duy “sản xuất rồi chờ người đến mua” sang chủ động tham gia thị trường.

Sự thay đổi này không thể diễn ra trong ngày một ngày hai. Một hợp tác xã trước đây chủ yếu bán cho thương lái sẽ phải đối mặt với yêu cầu hoàn toàn khác khi muốn vào hệ thống phân phối hiện đại. Khi đó, trách nhiệm không chỉ là sản xuất, mà còn là tổ chức thành viên, tập hợp nguồn hàng, quản trị rủi ro, chia sẻ lợi nhuận và rủi ro, xây dựng thương hiệu, đóng gói và chịu trách nhiệm với người tiêu dùng. Đó là quá trình chuyển từ người sản xuất sang chủ thể thị trường.

Chương trình OCOP trong những năm qua cũng tập trung vào quá trình thích ứng này, chuẩn hóa từ quy trình sản xuất, chất lượng, an toàn đến bao bì và khả năng tiếp cận thị trường; đồng thời nâng cao năng lực quản trị của hợp tác xã, hộ gia đình và doanh nghiệp. Với các sản phẩm tươi sống, câu chuyện còn gắn với khoa học công nghệ, bảo quản và kéo dài thời hạn sử dụng, bởi nếu không giải quyết được những khâu này thì khoảng cách địa lý sẽ tiếp tục trở thành rào cản đối với sức mua.

Để sức cầu trở thành động lực sản xuất

Thông tin từ tọa đàm cũng cho thấy, thực tiễn tại Lâm Đồng khi hoạt động kết nối cung - cầu được tổ chức thường xuyên, các chủ thể có thêm cơ hội tiếp cận doanh nghiệp thu mua, hệ thống phân phối và người tiêu dùng ngoài địa phương. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất đã quan tâm hơn đến thương hiệu, chất lượng, bao bì, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc; thương mại điện tử và nền tảng số cũng từng bước giúp các cơ sở sản xuất chủ động hơn trong giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm.

Tỉnh Lâm Đồng cũng tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, xây dựng mô hình điểm mua bán hàng hóa tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và đưa hàng Việt về nông thôn, miền núi. Qua đó, không chỉ mở đầu ra cho sản phẩm địa phương mà còn hình thành thị trường hai chiều.

Tuy nhiên, yêu cầu trong giai đoạn tới là nâng chất lượng của hoạt động kết nối. Theo định hướng của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, kết nối cung - cầu cần được thực hiện theo hướng chọn lọc, chuẩn bị, thử nghiệm và theo dõi. Sau các chương trình kết nối phải theo dõi đơn hàng thử, khả năng tái đặt hàng và những vướng mắc về giao nhận, chất lượng; không dừng lại ở việc tham gia hội chợ rồi kết thúc.

ndo_br_mua-sam3.jpg
Giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở bản thân hàng hóa, mà còn ở trải nghiệm và câu chuyện bản địa đi kèm. (Ảnh: Cục Quản lý thị trường)

Cùng với đó, vai trò của nhà phân phối cần được đưa lên sớm hơn trong chuỗi. Các tập đoàn, siêu thị, chuỗi bán lẻ, doanh nghiệp du lịch và nền tảng số có thể cung cấp ngay từ đầu những yêu cầu về quy cách, giá cả, sản lượng và giao hàng. Khi tín hiệu thị trường đến sớm với người sản xuất, quyết định đầu tư cũng có cơ sở hơn. Chuyển đổi số cũng cần đi vào phần “gốc” của hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ dừng ở mở gian hàng trực tuyến. Gian hàng số, nội dung số, livestream hay KOL chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi phía sau có hệ thống quản trị tồn kho, đơn hàng, thanh toán và dữ liệu khách hàng đủ tốt để duy trì người mua.

Đặc biệt, logistics cần được tổ chức lại theo vùng, với các điểm gom, sơ chế, đóng gói, kho phù hợp, lịch vận chuyển chung và liên kết với mạng lưới bưu chính, logistics, bán lẻ. Mục tiêu không chỉ giảm chi phí trên từng đơn vị hàng hóa mà còn tăng phần giá trị giữ lại cho người sản xuất.

Một thay đổi quan trọng khác là cách đánh giá hiệu quả chính sách. Nếu trước đây thành công có thể được nhìn nhận qua số sản phẩm được giới thiệu, số hội chợ được tổ chức hay số chủ thể tham gia, thì cách tiếp cận mới đặt trọng tâm vào những kết quả thực chất hơn: tỷ lệ sản phẩm duy trì trên kệ, đơn hàng lặp lại, tăng trưởng doanh thu, mức giảm chi phí, số việc làm và thu nhập tăng thêm tại cộng đồng. Đây cũng là thước đo phản ánh đúng bản chất của khai thác sức cầu nội địa. Bởi một thị trường mạnh không chỉ được tạo nên bởi sức mua, mà còn bởi khả năng đáp ứng của phía cung. Khi người tiêu dùng có thêm lựa chọn chất lượng, nhà phân phối có nguồn hàng tin cậy, hợp tác xã có căn cứ để đầu tư và người sản xuất có đầu ra ổn định, thị trường sẽ tạo thành một vòng tròn tích cực.

Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vòng tròn ấy còn có ý nghĩa lớn hơn giá trị thương mại đơn thuần. Đó là khả năng duy trì sinh kế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần giữ gìn những giá trị bản địa. Muốn vậy, cần tạo ra những chuyển dịch căn bản: từ sản xuất theo khả năng sang tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường; từ cạnh tranh chủ yếu bằng giá sang nâng cao giá trị dựa trên chất lượng, nguồn gốc và bản sắc; từ hỗ trợ riêng lẻ sang phối hợp đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Khai thác sức cầu nội địa, vì thế, không phải là câu chuyện “bán được thêm bao nhiêu sản phẩm” trong một thời điểm. Mục tiêu sâu hơn là hình thành những dòng chảy thương mại ổn định, để sức mua của thị trường trở thành tín hiệu cho sản xuất, sản xuất tạo ra nguồn hàng tin cậy cho phân phối và phân phối đưa sản phẩm đến đúng người tiêu dùng. Đó chính là lúc sức cầu nội địa thực sự trở thành điểm tựa cho sản xuất trong nước và động lực nâng cao giá trị sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Có thể bạn quan tâm

Việc liên tục bổ sung tàu bay mới là bước đi chiến lược của Vietravel Airlines nhằm nâng cao năng lực khai thác, đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển của hành khách trong giai đoạn thị trường hàng không khôi phục mạnh mẽ. (Nguồn ảnh: T&T Group)

Vietravel Airlines thỏa thuận mua 50 máy bay thế hệ mới từ Airbus, dự kiến nhận máy bay từ 2029

Ngày 10/9, tại Điện Élysée ở thủ đô Paris (CH Pháp), dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống CH Pháp Emmanuel Macron, Hãng hàng không Vietravel Airlines (đơn vị thành viên của Tập đoàn T&T Group) và Tập đoàn Airbus (Pháp) đã trao Ý Định Thư về việc mua 50 máy bay thế hệ mới. 

Lâm Đồng xác định du lịch thông minh là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong kết nối “ba nhà” để tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu phát triển địa phương. Trong ảnh: Mùa du lịch ở khu vực phía đông Lâm Đồng.

Hướng đến nền kinh tế xanh, bền vững

Xác định mục tiêu, Lâm Đồng thiết lập cơ chế liên kết chặt chẽ giữa “Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp”, trong đó doanh nghiệp đặt hàng, nhà khoa học tìm lời giải, Nhà nước tạo cơ chế, kết nối nguồn lực, hỗ trợ kinh phí và thúc đẩy ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Nâng cao chất lượng dịch vụ công góp phần cải thiện chất lượng sống của người dân và thúc đẩy phát triển vùng bền vững. (Ảnh: VL)

Phát triển vùng gắn với chất lượng sống của người dân

Với mục tiêu tăng GRDP bình quân 9-11%/năm tại 6 vùng kinh tế-xã hội, Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với bảo đảm giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường, nâng cao chất lượng sống của người dân. Sức chống chịu qua đó trở thành một yếu tố quan trọng trong năng lực cạnh tranh vùng.

Dây chuyền sản xuất rượu chuối mốc bản địa của Hợp tác xã Sơn Bua. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Đổi mới chế biến và bảo quản nông sản

Sau hợp nhất, không gian phát triển của ngành nông nghiệp Quảng Ngãi rộng lớn, sở hữu lợi thế đặc thù: Kinh tế biển-rừng. Với mục tiêu đưa sản phẩm nông nghiệp vươn xa, tỉnh xác định đổi mới sáng tạo trong chế biến và bảo quản nông sản là “chìa khóa” chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp.

Sản xuất thép tại nhà máy của Tập đoàn Hòa Phát. (Ảnh: ĐỨC DŨNG)

Kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm

Luật Công nghiệp trọng điểm được xây dựng nhằm thúc đẩy, kiến tạo phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm phù hợp bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Ngành thuế đẩy mạnh rà soát, chuẩn hóa dữ liệu người nộp thuế. (Ảnh: Minh Phương)

Làm sạch mã số thuế, phản ánh đúng trạng thái doanh nghiệp

Gần 600.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký tính đến tháng 6/2026. Xử lý hồ sơ tồn đọng cần vừa tháo gỡ nhanh cho doanh nghiệp tuân thủ, vừa sàng lọc các trường hợp lợi dụng pháp nhân để vi phạm pháp luật.

(Ảnh: TTXVN)

Chứng khoán ngày 9/9: Vn-Index đảo chiều giảm điểm, áp lực bán dâng cao cuối phiên

Phiên giao dịch ngày 9/9, thị trường chứng khoán Việt Nam đóng cửa trong sắc đỏ do sức ép từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn, đặc biệt là bất động sản và chứng khoán. Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng và năng lượng duy trì sắc xanh, góp phần nâng đỡ thị trường. Chốt phiên, VN-Index giảm 3,32 điểm, xuống mức 1.827,12 điểm.

(Ảnh: HNV)

Đổi mới tư duy phát triển, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới

Giai đoạn mới đòi hỏi chuyển trọng tâm sang năng suất, năng lực nội sinh, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, chuyển đổi số-xanh, chất lượng thể chế, phát triển con người. Đổi mới mô hình phát triển vì thế là đổi mới tư duy, cách phân bổ nguồn lực, mô hình doanh nghiệp, phương thức quản trị và thước đo thành công.

Hơn 100 sản phẩm đặc trưng của Cao Bằng sẽ được giới thiệu tại “Sức sống hàng Việt”. (Ảnh: Cục Quản lý thị trường)

Đặc sản Cao Bằng xuống phố Tràng Tiền

Miến dong Phia Đén, bánh khảo, lạp sườn, thạch đen, mật ong người Tày, hạt dẻ Quây Sơn, măng khô Bảo Lạc, dao Phúc Sen… hơn 100 sản phẩm đặc trưng của Cao Bằng sẽ được giới thiệu tại “Sức sống hàng Việt” số 13, từ ngày 11-13/9 tại 62 Tràng Tiền, Hà Nội.

Lễ khai mạc VITW 2026 diễn ra ngày 9/9, mở đầu cho ba ngày triển lãm và hội nghị tại VEC. (Ảnh: BTC cung cấp)

VITW 2026 quy tụ hơn 2.000 gian hàng công nghiệp và công nghệ

Diễn ra trong 3 ngày (9-11/9), Tuần lễ Công nghiệp và Công nghệ Việt Nam 2026 (VITW 2026) kết nối các hoạt động trưng bày, trình diễn công nghệ với các hội nghị chuyên ngành và giao thương, qua đó cập nhật những xu hướng đang định hình ngành công nghiệp toàn cầu.