Phát triển sản phẩm các làng nghề gắn xây dựng nông thôn mới

Đến nay, thành phố Hà Nội đã có 15/18 huyện, thị xã và 382/382 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM); trong đó, đã có 48 xã đạt chuẩn NTM nâng cao và 5 xã đạt NTM kiểu mẫu. Trong số các xã về đích NTM có sự đóng góp rất lớn của các làng nghề và nghề truyền thống, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động tại các vùng nông thôn của Thủ đô…
Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tại làng nghề xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất (Hà Nội).
Sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ tại làng nghề xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất (Hà Nội).

Theo Văn phòng điều phối chương trình xây dựng NTM thành phố Hà Nội, hiện nay, toàn thành phố có 807 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 42 làng nghề truyền thống, 271 làng nghề và 494 làng có nghề. So kết quả rà soát trước đây, Hà Nội có 1.350 làng nghề và làng có nghề, toàn thành phố có 543 làng nghề đã bị mai một.

Các làng nghề trên địa bàn thành phố đã có sự tăng trưởng cả về doanh thu, giá trị sản xuất và giá trị xuất khẩu qua các năm. Trong đó, có khoảng 100 làng nghề đạt doanh thu từ 10 đến 20 tỷ đồng/năm, gần 70 làng nghề đạt từ 20 đến 50 tỷ đồng/năm và khoảng 20 làng nghề đạt hơn 50 tỷ đồng/năm, đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương.

Tính đến nay, thành phố Hà Nội đã có khoảng 1.700 sản phẩm OCOP, trong đó có khoảng 500 sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống. Trong số hơn 300 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận có 6/7 nhóm nghề của cả nước, gồm chế biến, bảo quản nông sản (66 làng nghề); sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ (23 làng nghề); sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh dệt may, cơ khí nhỏ (195 làng nghề)…

Hiện nay, toàn thành phố có 807 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 42 làng nghề truyền thống, 271 làng nghề và 494 làng có nghề. So kết quả rà soát trước đây, Hà Nội có 1.350 làng nghề và làng có nghề, toàn thành phố có 543 làng nghề đã bị mai một.

Các làng nghề đã tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo, chất lượng cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hiện nay, tổng doanh thu từ các làng nghề đạt hơn 2.000 tỷ đồng hằng năm. Các làng nghề đều có sự tăng trưởng cả về doanh số và giá trị xuất khẩu qua các năm, trong đó, có khoảng 100 làng nghề đạt doanh thu từ 10 đến 20 tỷ đồng/năm, gần 70 làng nghề đạt từ 20 đến 50 tỷ đồng/năm và khoảng 20 làng nghề đạt hơn 50 tỷ đồng/năm, góp phần đáng kể cho ngân sách thành phố.

Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, do ảnh hưởng của hậu Covid-19, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, ảnh hưởng xuất nhập khẩu, khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều làng nghề Hà Nội bị ảnh hưởng, đặc biệt là việc xuất khẩu hàng hóa, du lịch làng nghề. Hầu hết các cơ sở sản xuất đang phải đối mặt với nhiều khó khăn từ nguyên liệu đầu vào tới đầu ra của sản phẩm, vấn đề ô nhiễm môi trường, không gian sản xuất, đầu tư công nghệ sản xuất... ảnh hưởng không nhỏ việc phát triển của các làng nghề hiện nay.

Kết quả khảo sát của Tổ chức Forest Trends, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) và các hiệp hội gỗ tại các làng nghề mới đây cho thấy, năng lực sản xuất của các hộ dân đã giảm mạnh so trước khi bùng phát dịch bệnh.

Trong số các làng nghề khảo sát, có các làng nghề sản xuất đồ gỗ: Liên Hà, Vạn Điểm, Hữu Bằng… công suất nơi cao nhất hiện nay mới chỉ đạt hơn 70% và nơi thấp nhất hiện chỉ đạt 50% công suất. Một số làng nghề, từng tham gia làm gia công cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ ra nước ngoài, nay do kinh tế thế giới suy giảm cũng gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều hộ gia đình tại các làng mặc dù đã quay trở lại sản xuất, nhưng cũng chỉ mang tính chất “cầm chừng” với mục đích “làm để giữ thợ” và “lấy công làm lãi” mà không có lợi nhuận.

Lực lượng lao động tại các làng nghề bị suy giảm, đặc biệt là nhóm lao động tự do từ các nơi khác tới làm thuê cho các hộ tại đây. Cùng với đó, vốn vay để phát triển sản xuất cho các làng nghề cũng bị hạn chế do các tổ chức tín dụng tăng lãi suất, chính sách vay vốn siết chặt. Trong số các hộ sản xuất, kinh doanh đồ gỗ có tới hơn 70% số hộ phải vay vốn. Hoạt động sản xuất đình trệ, nguồn thu bị mất hoặc sụt giảm tạo ra sức ép về các khoản vay rất lớn cho các hộ.

Bà Nguyễn Thị Bảy, chủ hộ sản xuất sản xuất sản phẩm gỗ tại làng nghề Hữu Bằng, huyện Thạch Thất (Hà Nội) cho biết, thời gian bị dịch bệnh, các hộ kinh doanh phải đóng cửa do không có khách hàng mua hàng. Khi trở lại giai đoạn bình thường mới, các khó khăn của làng nghề vẫn tiếp tục do thiếu nhân công, thiếu thị trường tiêu thụ, thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào, thiếu vốn sản xuất.

Còn theo Phó Chủ tịch làng nghề mộc Liên Hà (Hà Nội) Nguyễn Trạch Thường, để góp phần tháo gỡ khó khăn cho các làng nghề gỗ hiện nay, rất cần sự vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và chính quyền các địa phương. Với vai trò quan trọng của các hộ tại các làng nghề trong phát triển kinh tế địa phương và tạo việc làm cho người lao động hiện nay, các làng nghề gỗ đề nghị Chính phủ hỗ trợ về vật chất và cơ chế chính sách để phát triển ổn định, bền vững.

Nghề làm nón lá làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai (Hà Nội).

Nghề làm nón lá làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai (Hà Nội).

Theo Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam Lưu Duy Dần, thực tế hiện nay, chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các làng nghề ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung còn thấp, mẫu mã đơn điệu, thiếu độ tinh xảo, do đó kém sức cạnh tranh. Làng nghề đang thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, nhưng gặp nhiều khó khăn, nhất là tiếp cận vay vốn; ứng dụng khoa học, công nghệ; nâng cao tay nghề trong khi phải chịu nhiều thủ tục hành chính rườm rà gây khó khăn trong kinh doanh,v.v…

Thị trường tiêu thụ chậm, làng nghề (nhất là các làng nghề truyền thống) mới chỉ bán được những sản phẩm hàng hóa làng nghề đang có, chưa nghiên cứu sâu nhu cầu của người tiêu dùng. Đối với thị trường trong nước, sản phẩm của các làng nghề cũng chưa vươn tới nhiều vùng; với thị trường nước ngoài thì việc tiếp thị còn quá yếu kém. Đáng quan tâm hơn nữa là khâu tiêu thụ chưa được tổ chức tốt; thu nhập của người sản xuất thường thấp, nhiều khâu trung gian thu lợi lớn hơn.

Mặt khác, đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề chưa được quan tâm bồi dưỡng, phát huy đúng mức. Nghệ nhân chưa được thu hút vào việc truyền dạy nghề cho lao động nông thôn, chưa được giúp đỡ để sáng tạo mẫu mã mới, cũng chưa được tôn vinh đúng mức.

Hiện nay, tình trạng ô nhiễm tại làng nghề vẫn chưa được xử lý hiệu quả. Nhiều làng nghề, người dân vẫn phải sống chung với ô nhiễm, chịu nhiều bệnh tật, tuổi thọ giảm sút. Việc quy hoạch làng nghề triển khai chậm, nhiều cơ sở làng nghề ô nhiễm nặng chưa được di dời.

Nhằm thúc đẩy và phát triển làng nghề, chính quyền các địa phương cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, khuyến khích phát triển làng nghề gắn bảo vệ môi trường. Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề gắn với xây dựng NTM; tăng cường nguồn vốn hỗ trợ xây dựng hạ tầng làng nghề, bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống. Xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu lao động trình độ cao cho các làng nghề. Thường xuyên tập huấn nâng cao năng lực cho các chủ cơ sở sản xuất có kiến thức về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề tham gia hoạt động xúc tiến thương mại để quảng bá các sản phẩm truyền thống của địa phương, tham gia các hội chợ triển lãm, khai thác thị trường; tăng cường trao đổi kinh nghiệm. Đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển các mô hình du lịch tại các làng nghề bảo đảm phát triển ổn định, bền vững, hội góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới hiệu quả, thiết thực tại các địa phương.

Có thể bạn quan tâm

Rà soát dữ liệu người nộp thuế gắn với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. (Ảnh: M.P)

Ngăn mạo danh, bảo vệ quyền lợi người nộp thuế

Không thành lập doanh nghiệp, không nhận thu nhập nhưng thông tin cá nhân vẫn xuất hiện trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, kê khai thuế. Những phản ánh được tiếp nhận đặt ra yêu cầu xác minh kịp thời, tách bạch trách nhiệm của người bị mạo danh và ngăn việc lợi dụng dữ liệu cá nhân ngay từ khâu đăng ký.

Toàn cảnh hệ thống dây chuyền bốc rót than của Công ty Tuyển than Cửa Ông-TKV. (Ảnh QUANG THỌ)

Công ty Tuyển than Cửa Ông chăm lo tốt đời sống người lao động

Trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành than còn nhiều khó khăn, Công ty Tuyển than Cửa Ông vẫn duy trì ổn định nhịp độ sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ than; đồng thời, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân lao động, tạo động lực hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm 2026.

Diễn đàn kỳ vọng góp phần kết nối 3 yếu tố dữ liệu, công nghệ và thị trường, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng thực chất, phù hợp hơn với điều kiện của khu vực kinh tế tập thể. (Ảnh: HNV)

Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường

Chuyển đổi số đang trở thành một yêu cầu ngày càng rõ nét đối với khu vực kinh tế tập thể. Tuy nhiên, với nhiều hợp tác xã, vấn đề đặt ra không chỉ là lựa chọn công nghệ nào mà còn là chuyển đổi số để giải quyết bài toán gì, bắt đầu từ đâu và làm thế nào để tạo ra hiệu quả thực chất.

Quang cảnh phiên họp. (Ảnh: HIỂN CỪ)

Quảng Ngãi: 9 tháng năm 2026 tăng trưởng xếp thứ 3/6 tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Sáng 7/10, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức họp phiên thường kỳ đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh tháng 9, quý III, 9 tháng và nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026. Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi Y Ngọc chủ trì phiên họp.

(Ảnh minh họa: THU LAN)

Sáng 7/10, giá bạc thế giới nhích nhẹ

Sáng 7/10, giá bạc thế giới nhích nhẹ lên ngưỡng gần 61 USD/ounce, trong bối cảnh giá dầu phục hồi trước những rủi ro dai dẳng đối với nguồn cung từ Trung Đông, khiến các lo ngại về lạm phát và khả năng tăng lãi suất tiếp tục được chú ý.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Văn Lương kiểm tra tại dự án Khu đô thị, thương mại, du lịch, dịch vụ và sân golf Huổi Phạ. (Ảnh: LÊ LAN)

Điện Biên yêu cầu xác định rõ trách nhiệm, mốc thời gian hoàn thành từng nhiệm vụ trong các dự án trọng điểm

Bảo đảm tiến độ tổng thể các dự án trọng điểm đang triển khai trên địa bàn phường Điện Biên Phủ và xã Thanh Nưa (tỉnh Điện Biên), Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Văn Lương đã yêu cầu chủ đầu tư, các sở, ngành và chính quyền địa phương phải xác định rõ trách nhiệm, mốc thời gian hoàn thành từng nhiệm vụ trong các dự án.

VISSAN triển khai kế hoạch sản xuất hàng tết từ đầu tháng 9/2026. (Ảnh: SATRA)

SATRA chủ động nguồn hàng cung ứng Tết Đinh Mùi 2027

Từ vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến, chợ đầu mối đến hệ thống bán lẻ, SATRA đang triển khai kế hoạch chuẩn bị hàng Tết Đinh Mùi 2027 với quy mô dự trữ hơn 376 tỷ đồng, đồng thời tăng cường công tác an toàn thực phẩm, logistics và khuyến mại kích cầu nhằm phục vụ thị trường Thành phố Hồ Chí Minh.

Dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước (Đà Nẵng) được tái khởi động xây dựng từ quý III/2026 tại Quyết định số 3605/UBND ngày 12/8/2026. (Ảnh: ANH QUÂN)

Gỡ vướng cho dự án tồn đọng, kéo dài

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

(Ảnh minh họa: THÀNH ĐẠT)

Rút ngắn khoảng cách từ nguồn hàng đến người tiêu dùng

Mới đây, khi làm việc với Bộ Công thương và các bộ, ngành liên quan về cơ cấu, tổ chức lại hệ thống phân phối xăng, dầu, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc sửa đổi quy định phải thực chất, cắt giảm tối đa đầu mối, khâu trung gian, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và bảo đảm nguồn cung trong mọi tình huống.

Bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính. (Ảnh: BTC)

Hỗ trợ đúng nhu cầu để doanh nghiệp lớn lên

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được định hướng lại theo hướng có trọng tâm, gắn với nhu cầu và quá trình trưởng thành của doanh nghiệp. Dự thảo Luật mới đồng thời chú trọng giảm chi phí tuân thủ, khơi thông nguồn lực và tạo thuận lợi hơn cho hộ kinh doanh chuyển đổi, doanh nghiệp từng bước nâng quy mô.