Phát triển du lịch cộng đồng ở Sa Pa

Với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và bản sắc văn hóa độc đáo của nhiều dân tộc thiểu số chung sống lâu đời, Sa Pa (Lào Cai) tập trung phát triển du lịch cộng đồng (homestay), hướng về người dân, để vừa giảm quá tải cho khu vực đô thị chật hẹp, vừa xóa nghèo, tạo thế phát triển du lịch bền vững, gắn với bảo vệ bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái địa phương.

Cuối thu, thời tiết ở Sa Pa đã rét lạnh, chúng tôi ngồi quây quanh bàn trà sâm rừng Hoàng Liên vừa pha, trong ngôi nhà sàn theo kiểu người Tày của ông Hoàng Văn Mục - người khởi xướng làm du lịch “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng lao động) ở xã Tả Van.

Biến di sản thành tài sản

Câu chuyện rôm rả, xoay quanh việc làm sao để nâng cao hơn chất lượng dịch vụ du lịch trong từng gia đình người Giáy ở đây; từ giữ gìn bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, đến vệ sinh nhà cửa, bản làng sạch sẽ; rồi làm thổ cẩm bằng tay, nấu món ăn dân tộc từ nguyên liệu vườn nhà để thu hút và giữ chân du khách, nhất là người nước ngoài đến lưu trú.

Bản làng người Giáy ở Tả Van, thị xã Sa Pa là điểm du lịch cộng đồng thu hút du khách trong nước và quốc tế.

Bản làng người Giáy ở Tả Van, thị xã Sa Pa là điểm du lịch cộng đồng thu hút du khách trong nước và quốc tế.

Tả Van theo tiếng địa phương là “vòng cung lớn”. Quả đúng là thế, những ngôi nhà người Giáy “treo” trên sườn núi hình cánh cung, ôm trọn dòng suối Mường Hoa trong xanh, uốn lượn quanh những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ.

Du lịch cộng đồng là loại hình dành cho những du khách thích khám phá, trải nghiệm và tìm hiểu phong tục tập quán của người dân địa phương; họ sẽ ăn, ngủ tại nhà dân, sinh hoạt và lao động cùng với người dân, để khám phá những nét văn hóa bản địa độc đáo, vì thế nó có sức hấp dẫn riêng.

Đến Tả Van, chúng tôi bắt gặp từng tốp du khách nước ngoài tham quan khu sản xuất nông nghiệp ruộng bậc thang, thắng cảnh suối Mường Hoa, hoặc điểm làm nghề thủ công truyền thống dệt sợi lanh, nhuộm chàm, vẽ sáp ong trên thổ cẩm,… theo lời giới thiệu của các “hướng dẫn viên” người địa phương.

Tại đây, họ được trải nghiệm cảm giác làm “công dân thực thụ” của vùng đất này. Chị Pô-lin In-lơ-dăm, một du khách người Pháp chia sẻ: “Gia đình chúng tôi chọn tour du lịch “ba cùng” để có thể nghỉ tại nhà dân trong bản làng, tìm hiểu văn hóa cũng như tập quán vùng miền của họ”.

Chúng tôi ghé thăm điểm lưu trú du lịch homestay của gia đình bà Lý Thị Lỳ, thôn Tả Van Giáy 2, bà Lỳ tâm sự: “Làm du lịch homestay theo đúng nghĩa không đơn giản. Với loại hình du lịch này, dịch vụ, phòng nghỉ, ăn uống không phải là vấn đề quá lớn, bởi du khách chọn “homestay” tức là chấp nhận điều kiện vật chất tối thiểu; quan trọng nhất là làm sao tạo cho họ cảm giác thoải mái, thấy yêu thích cuộc sống và nét văn hóa đặc sắc của vùng đất nơi họ đến”.

Chủ tịch UBND xã Tả Van Lê Mạnh Hào cho biết, cụm homestay Tả Van Giáy 1 là một trong năm cụm homestay của Việt Nam đoạt giải thưởng ASEAN. Hiện ở địa phương có khoảng 150 hộ dân sinh sống, thì có hơn 50 hộ đăng ký làm mô hình du lịch cộng đồng (homestay), mỗi nhà có sức chứa từ 10 đến 20 người, trung bình vào mùa cao điểm, mỗi ngày phục vụ từ 200 đến 300 khách. Giá lưu trú một đêm tại Tả Van khá rẻ, dao động từ 100 đến 150 nghìn đồng, tùy hạng phòng.

Bản Cát Cát người H’mông hấp dẫn du khách ở thị xã Sa Pa.

Bản Cát Cát người H’mông hấp dẫn du khách ở thị xã Sa Pa.

Tuy nhiên, cũng có những phòng lưu trú cao cấp do các doanh nghiệp đầu tư xây dựng, có giá lên tới hơn 1 triệu đồng/đêm. Ngoài lưu trú qua đêm, đồng bào Giáy ở Tả Van còn bảo đảm cho du khách thưởng thức nét đặc sắc của ẩm thực dân tộc và các tiết mục văn nghệ như múa quạt, hát ống, hát dân ca…

Nắm bắt nhu cầu của du khách và phát huy tiềm năng, thế mạnh khí hậu, cảnh quan, bản sắc văn hóa đa sắc màu các dân tộc, thị xã Sa Pa tập trung đầu tư phát triển loại hình du lịch cộng đồng, hướng về bản làng và người dân, cộng đồng dân cư.

Tính đến hết tháng 7/2022, Sa Pa có 362 cơ sở kinh doanh homestay, 126 cơ sở dịch vụ ăn uống tại các điểm du lịch cộng đồng; 157 cơ sở quà tặng lưu niệm, 39 dịch vụ tắm thuốc và 222 dịch vụ khác. Các điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn thị xã Sa Pa luôn thu hút từ 800.000-1.400.000 lượt khách/năm; trong đó, đông nhất là điểm du lịch làng nghề Cát Cát, thung lũng Mường Hoa và Tả Phìn, đem lại nguồn thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm.

Thân thiện với thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa bản địa

Được hình thành trên miền đất cổ, thị xã Sa Pa có 6 dân tộc chính, gồm: Mông (54,9 %), Dao (25,6 %), Kinh (13,6 %); Tày (3%), Dáy (1,6 %) và các dân tộc khác.

Ở vùng cao, người Mông, Dao khai khẩn các sườn núi thành những thửa ruộng bậc thang nằm dọc theo những sườn núi cao tạo ra những cảnh quan đặc sắc thu hút khách du lịch; đặc biệt là khu vực ruộng bậc thang ở thung lũng Mường Hoa đã được xếp hạng di sản cấp quốc gia. Kiến trúc nhà ở của các dân tộc tại các bản, làng dân tộc cũng tạo ra nét hấp dẫn riêng với du khách.

Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc trên địa bàn thị xã khá phong phú và đa dạng như: nghề thổ cẩm của người Dao, Tày, Mông, nghề rèn đúc của người Mông, nghề đan lát của người Phù Lá, nghề chạm khắc bạc và làm đồ trang sức của dân tộc Mông, Dao; các bài thuốc dân gian của các dân tộc thiểu số; trang phục truyền thống của các dân tộc cũng tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt với du khách.

Tuy nhiên, hầu hết các điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn thị xã mới chỉ khai thác dịch vụ ăn, nghỉ và biểu diễn văn nghệ phục vụ khách du lịch, còn thiếu các hoạt động thu hút và kéo dài thời gian lưu trú của du khách tại địa phương. Các nghề thủ công truyền thống mới chỉ dừng lại ở những mô hình thí điểm nên chưa tạo được sức lan tỏa.

Sắc màu bản Cát Cát.

Sắc màu bản Cát Cát.

Theo Chủ tịch UBND thị xã Sa Pa Vương Trinh Quốc, Sa Pa hướng đến chính sách phát triển du lịch cộng đồng thân thiện với thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa.

Theo đó, cần quy hoạch, định hướng phát triển sản phẩm du lịch theo hướng bền vững, gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan thiên nhiên; phát triển các sản phẩm du lịch có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh cao, trong đó ưu tiên xây dựng các sản phẩm du lịch gắn với tiềm năng thiên nhiên, văn hóa của Khu du lịch quốc gia Sa Pa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách, bảo đảm tính bền vững, có khả năng thu hút khách chi tiêu cao và khách trở lại nhiều lần.

Cụ thể, sẽ tập trung phát triển sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa gắn với du lịch cộng đồng các dân tộc Sa Pa với chủ đề "Sa Pa-Xứ sở trải nghiệm và tìm hiểu văn hóa truyền thống”.

Hình thành 5 điểm du lịch cộng đồng theo tiêu chuẩn ASEAN gắn với đặc trưng 5 dân tộc thiểu số trên địa bàn thị xã gồm: Mường Hoa gắn với văn hóa dân tộc Mông, Bản Hồ gắn với văn hóa dân tộc Tày, Tả Phìn gắn với văn hóa dân tộc Dao, Liên Minh gắn với văn hóa dân tộc Phù Lá (nhóm ngành Xá Phó), Tả Van gắn với văn hóa dân tộc Giáy.

Mục tiêu là đến năm 2025, du lịch cộng đồng Sa Pa sẽ trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở địa phương và sản phẩm du lịch cộng đồng Sa Pa khẳng định được thương hiệu, có sức cạnh tranh cao, đạt tiêu chuẩn châu Á (tiêu chuẩn ASEAN), trở thành mô hình du lịch cộng đồng đặc trưng, tiêu biểu ở Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Các hoạt động văn hóa được tổ chức tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam. (Ảnh: KHÔI MINH)

Điều chỉnh thời gian tổ chức Festival Thu Hà Nội 2026

Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội-Hành trình cảm xúc” sẽ được tổ chức từ ngày 16 đến 18/10/2026, thay cho thời gian dự tính từ ngày 25 đến 27/9. Việc điều chỉnh nhằm bảo đảm tiến độ, chất lượng và yêu cầu tổ chức sự kiện, đồng thời tạo điểm nhấn quảng bá hình ảnh Hà Nội trong mùa thu.

Du lịch chăm sóc sức khỏe đang từng bước trở thành phân khúc có giá trị gia tăng cao, kéo dài thời gian lưu trú của khách quốc tế khi đến Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)

Kiến tạo hệ sinh thái du lịch chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam

Đề án "Phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam đến năm 2030" nhằm từng bước hình thành nền tảng du lịch chăm sóc sức khỏe theo hướng chuyên nghiệp, có sản phẩm đặc trưng, dịch vụ chất lượng và chuỗi liên kết bền vững. Từ đó, hướng tới trở thành sản phẩm chủ đạo, mang giá trị gia tăng cao của ngành du lịch Việt.

Du lịch Việt Nam cần có những "sếu đầu đàn" đủ mạnh để dẫn dắt sản phẩm, thị trường, góp phần xác lập vị thế du lịch quốc gia. (Ảnh: QUANG NGHĨA)

Bài toán 15 “sếu đầu đàn” và sức bật du lịch Việt

Nghị quyết 26-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, hình thành 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế. Đây không đơn thuần là chỉ tiêu về số lượng, mà còn nhằm tạo ra những “sếu đầu đàn” đủ sức dẫn dắt sản phẩm, thị trường, góp phần xác lập vị thế du lịch Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới.

Gian hàng Việt Nam tại Triển lãm Du lịch Trung Quốc-ASEAN lần thứ 23 diễn ra từ ngày 19-21/9 vừa qua ở Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc. (Ảnh: TITC)

Mở ra chương mới trong hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Quốc

Năm hợp tác du lịch Việt Nam-Trung Quốc 2026-2027 đã mở ra một giai đoạn mới với nhiều cơ hội lớn. Song song với việc mở rộng tour, tuyến, phát triển sản phẩm mới, Việt Nam mong muốn tăng cường kết nối hàng không, đường bộ và đường sắt. Từ đó, đẩy mạnh giao lưu văn hóa, tăng cường trao đổi khách hai chiều.

Du khách tham quan Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Hà Nội). (Ảnh: TRẦN HẢI)

Cơ hội bứt phá của du lịch Việt Nam

Trước yêu cầu “Tái cơ cấu ngành du lịch, chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo” theo quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngành du lịch nước ta cần tăng cường liên kết, xác định đúng thị trường và sản phẩm để thu hút dòng khách chất lượng cao. 

Các tiết mục biểu diễn tại Festival Thăng Long-Hà Nội năm 2026 cho thấy sức hấp dẫn của việc phát huy chất liệu di sản thông qua sáng tạo và trải nghiệm văn hóa. (Ảnh: Ban Tổ chức)

Festival Thăng Long-Hà Nội 2026: Để di sản tiếp tục được trao truyền và sáng tạo

Từ Hoàng thành Thăng Long, làng gốm Bát Tràng đến hồ Hoàn Kiếm, Festival Thăng Long-Hà Nội 2026 đã kết nối di sản, nghệ thuật với đời sống đương đại. Hơn 16 hoạt động đặc sắc diễn ra, thu hút khoảng 250 nghìn lượt khách với sự tham gia của hơn 3.000 nghệ sĩ, diễn viên, 100 nghệ nhân, cùng các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước.

Hậu trường MV “Lá ngọc cành vàng” của ca nương Kiều Anh. (Ảnh: Antiantiart)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Đòn bẩy phát triển du lịch từ các ngành công nghiệp văn hóa

Từ bộ phim Hộ linh tráng sĩ, đến MV Come My Way hay MV Lá ngọc cành vàng, có thể thấy địa điểm được lựa chọn cho một MV, một bộ phim hay một lễ hội không đơn thuần là câu chuyện của bối cảnh. Đằng sau mỗi lựa chọn không gian là cách một sản phẩm văn hóa được kết nối với một vùng đất và những bản sắc riêng biệt.

Vẻ đẹp của Đại Nội Huế, một phần trong Quần thể di tích Cố đô Huế, mang đậm dấu ấn văn hóa, lịch sử, kiến trúc của triều đại nhà Nguyễn. Nơi đây được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1993. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Sức hút của du lịch di sản: Đi để khám phá câu chuyện đằng sau mỗi điểm đến

Ngày nay, cách du khách lên kế hoạch cho các chuyến đi khám phá văn hóa tại Việt Nam đã có sự thay đổi không nhỏ. Du khách không chỉ tìm kiếm những điểm đến di sản, mà còn quan tâm tới cách thức để trải nghiệm thông qua các tour có hướng dẫn, chương trình biểu diễn văn hóa, cảnh quan địa phương và các di tích lịch sử.

Khách du lịch đến Thủ đô Hà Nội vào dịp Tết. (Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Du lịch Việt nỗ lực giữ vững quy mô, tốc độ tăng trưởng top đầu Đông Nam Á

Thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam đặt mục tiêu đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, 160 triệu lượt khách nội địa vào năm 2030. Tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 10-12% GDP cho đất nước. 

Công viên đá Núi Chúa kỳ thú dưới nắng chiều.

[Ảnh] Công viên đá Núi Chúa: "Bảo tàng địa mạo" triệu năm bên bờ biển Khánh Hòa

Nằm tĩnh lặng trong ranh giới Vườn Quốc gia Núi Chúa, Công viên đá Núi Chúa là một trong những điểm đến hoang sơ và kỳ vĩ bậc nhất Ninh Thuận (cũ). Trải qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất, hàng vạn khối đá đã bị phong hóa, bào mòn thành những hình thù độc đáo, xếp chồng lên nhau vươn dài ra sát mép sóng.

Khách hàng trải nghiệm thanh toán QR xuyên biên giới. (Ảnh: HOÀNG TRANG)

Kết nối thanh toán, nâng trải nghiệm du lịch

Sự thay đổi trong cách lựa chọn điểm đến và sử dụng dịch vụ của du khách Trung Quốc đang đặt ra yêu cầu mới đối với du lịch Việt Nam. Bên cạnh sức hấp dẫn của cảnh quan, ẩm thực và văn hóa bản địa, khả năng thanh toán thuận tiện trở thành một mắt xích góp phần hoàn thiện trải nghiệm, mở rộng cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk

Chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo được những kết quả bước đầu, hình thành một số mô hình, cải thiện điều kiện phục vụ khách du lịch, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc.

Bức tranh thiếu nữ đánh đàn, được làm bằng những cây lúa.

[Ảnh] Những cánh đồng "bội thu sớm" ở Trung Quốc

Những bãi đỗ xe gần như chật kín, dòng người đông đúc đổ về trải nghiệm văn hóa và cảnh sắc thôn quê, hài lòng với những bức ảnh check-in trên cánh đồng đa sắc màu rực rỡ, tuy chưa vào thời điểm thu hoạch nhưng đã cho thấy sự tốt tươi, được mùa. Đây là một trong nhiều lát cắt về công cuộc chấn hưng nông thôn ở Trung Quốc.

Hình ảnh nghệ nhân điêu khắc tác phẩm từ rễ tre trên phố cổ Hội An, thu hút nhiều du khách đến chiêm ngưỡng, tìm hiểu. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Khơi thông nguồn lực, đưa du lịch Việt Nam bứt tốc

Để khơi thông mọi nguồn lực phát triển, du lịch Việt cần đổi mới tư duy, cách tiếp cận và cách làm nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị du lịch từ số lượng sang chất lượng. Qua đó, nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Du lịch và Công nghiệp văn hóa có mối quan hệ mật thiết. (Ảnh: VEC)

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Khi hai trụ cột du lịch và công nghiệp văn hóa song hành

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã định hướng phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với mục tiêu đến năm 2030 đóng góp trực tiếp từ 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế; đến năm 2045, tỷ lệ này đạt 14-15%, đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới.

Bãi đá cuội 7 màu ở biển Cổ Thạch, Lâm Đồng được xem kiệt tác địa chất hiếm có, thu hút khách du lịch khám phá. (Ảnh: TÙNG LÂM)

Mở hướng phát triển mới cho du lịch Lâm Đồng

Bằng việc tái cấu trúc không gian thành mô hình liên kết mới và khai thác vào chiều sâu di sản bản địa, ngành du lịch Lâm Đồng đang hướng tới mục tiêu phát triển xanh, bền vững, từng bước định vị thương hiệu điểm đến chất lượng cao với chuỗi trải nghiệm riêng biệt, thú vị cho du khách.