Nuôi trồng thủy sản hướng tới sản xuất hàng hóa lớn

Triển khai Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tháng 8/2022 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030.
Nuôi trồng thủy sản lồng bè trên biển ven đảo Lý Sơn. (Ảnh: Hiển Cừ)
Nuôi trồng thủy sản lồng bè trên biển ven đảo Lý Sơn. (Ảnh: Hiển Cừ)

Mục tiêu là hướng tới phát triển nuôi trồng thủy sản hiệu quả, bền vững, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản; đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu...

Năm 2022 là năm thứ hai ngành thủy sản thực hiện chương trình này, nhìn vào những kết quả thu được có thể khẳng định chủ trương này đang đi đúng hướng và hứa hẹn nhiều thành tựu…

Bên cạnh mục tiêu tổng thể nói trên, Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030 còn đề ra nhiều mục tiêu cụ thể: Đến năm 2030 sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 7 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 12 tỷ USD/năm; tốc độ tăng trưởng giá trị nuôi trồng thủy sản đạt bình quân hơn 4,5%/năm. Đặc biệt, trong 8 năm tới, chúng ta sẽ đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng đầu mối thiết yếu đáp ứng yêu cầu sản xuất cho hơn 50 vùng nuôi trồng thủy sản và vùng sản xuất giống tập trung...

Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030 còn đề ra nhiều mục tiêu cụ thể: Đến năm 2030 sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 7 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 12 tỷ USD/năm; tốc độ tăng trưởng giá trị nuôi trồng thủy sản đạt bình quân hơn 4,5%/năm. Đặc biệt, trong 8 năm tới, chúng ta sẽ đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng đầu mối thiết yếu đáp ứng yêu cầu sản xuất cho hơn 50 vùng nuôi trồng thủy sản và vùng sản xuất giống tập trung...

Thiên thời, địa lợi…

Soi chiếu trên thực tế có thể thấy rằng, cả về yếu tố khách quan và chủ quan, ngành thủy sản Việt Nam có thể đạt được mục tiêu phát triển đề ra. Trước hết, dư địa phát triển nuôi trồng thủy sản còn rất lớn. Nước ta có các hệ thống sông ngòi dày đặc, rất nhiều hồ nước sâu, đầm phá nhưng đa số hồ chứa nước chưa được khai thác tiềm năng, lợi thế.

Các đối tượng thủy sản nuôi trồng cũng rất đa dạng, gồm cá tra, nuôi biển và các loài nhuyễn thể hai mảnh... Chúng ta đã có các nhà máy hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn châu Âu và vùng nguyên liệu. Vấn đề là làm sao để khai thác toàn bộ tiềm năng của các vùng nuôi, của các đối tượng nuôi để đạt được mục tiêu...

Tại Hội nghị triển khai Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030 diễn ra vào cuối tháng 12/2022, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến cho biết, phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản nước ta không ngừng phát triển, tạo được nhiều dấu ấn và có vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế đất nước.

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã xây dựng được chuỗi giá trị cá tra, đến nay đã phát huy hiệu quả và đặt mục tiêu đến năm 2030, chúng ta chủ động sản xuất, cung ứng được hơn 70% nhu cầu tôm sú, tôm thẻ chân trắng bố mẹ và 100% cá tra bố mẹ chọn giống; đồng thời, cải thiện chất lượng con giống các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn.

Trong nhiều năm qua, chúng ta đã xây dựng được chuỗi giá trị cá tra, đến nay đã phát huy hiệu quả và đặt mục tiêu đến năm 2030, chúng ta chủ động sản xuất, cung ứng được hơn 70% nhu cầu tôm sú, tôm thẻ chân trắng bố mẹ và 100% cá tra bố mẹ chọn giống; đồng thời, cải thiện chất lượng con giống các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn.

Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, đồng thời phát triển hệ thống sản xuất, cung ứng vật tư và công nghiệp hỗ trợ nuôi trồng thủy sản cũng là một trọng tâm lớn cần tập trung triển khai.

Được biết, trong giai đoạn 2021-2030, Chính phủ đã xác định 9 nhóm dự án với tổng kinh phí 1.000 tỷ đồng về phát triển nuôi trồng thủy sản và 19 dự án/nhóm dự án đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phát triển nuôi trồng thủy sản ưu tiên với tổng kinh phí 6.000 tỷ đồng.

Hiện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản (thay thế Nghị định số 67), theo đó cơ chế, chính sách đầu tư hạ tầng vùng sản xuất giống, nuôi trồng thủy sản sẽ hướng tới: ngân sách Trung ương đầu tư 100% kinh phí xây dựng các hạng mục hạ tầng thiết yếu thuộc vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, vùng nuôi trồng thủy sản trên biển, vùng sản xuất giống thủy sản tập trung, vùng sản xuất giống thủy sản phục vụ nuôi trồng thủy sản trên biển…; ngân sách địa phương thực hiện đầu tư đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là UBND cấp tỉnh) không thuộc đối tượng được ngân sách Trung ương đầu tư, hỗ trợ đầu tư và đáp ứng quy định của Nghị định này…

Về kim ngạch xuất khẩu, với con tôm, Việt Nam hướng tới mục tiêu xuất khẩu 4,5 tỷ USD vào năm 2025 và 6,2 tỷ USD năm 2030; cá tra đạt 2 tỷ USD vào năm 2025 và 3 tỷ USD năm 2030. Ngoài ra, hai nhóm mới là nuôi biển hướng tới đạt 900 triệu USD vào năm 2025 và 2 tỷ USD năm 2030. Những con số này cũng đã được tính toán và cân nhắc rất kỹ từ các yếu tố thị trường, khả năng phát triển.

Bệ phóng vững chắc cho phát triển nuôi biển giai đoạn 2021-2030 là chúng ta đã xây dựng được một hành lang pháp lý đầy đủ. Đó là có một khung quy định hết sức hoàn chỉnh, nhất là Luật Chăn nuôi, cùng với đó là Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030; Kế hoạch hành động phát triển ngành tôm; Đề án nuôi biển và mới đây là Quyết định 985 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030 cùng một loạt đề án khác để hỗ trợ cho chương trình phát triển này.

Khởi đầu ấn tượng

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và bước đầu thực hiện Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030 không phải không có những băn khoăn về những vướng mắc có thể phát sinh. Đại diện Hội Nghề cá Việt Nam đã nêu một số băn khoăn và kiến nghị Cục Thủy sản cũng như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Về con giống, chúng ta tập trung vào hai đối tượng chính là cá tra và tôm. Cá tra bố mẹ ngoài tự nhiên và cá tra tại các trại giống đang bị thoái hóa dần, từ đó dẫn đến hiện tượng cá ăn nhiều nhưng lớn chậm, nhiều bệnh và tỷ lệ chết cao. Còn tôm giống thì tôm sú gần như phải dựa vào tự nhiên và nhập khẩu; tôm thẻ chân trắng chúng ta mới chủ động được 50%.

Bên cạnh đó, chúng ta phải đánh giá và chứng nhận thực hành sản xuất tốt nuôi trồng thủy sản VietGAP theo quy chuẩn, làm thực chất chứ không phải hình thức. Còn có tình trạng người dân mua phải thức ăn thủy sản không bảo đảm chất lượng, chế phẩm sinh học mang về dùng không hiệu quả, do đó cần phải siết chặt quản lý vật tư đầu vào nuôi trồng thủy sản.

Hay một trăn trở khác mà TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam phân tích, cũng cần được chú ý và có hướng điều chỉnh cho phù hợp hơn là: Khác với nuôi trồng thủy sản ở ao hồ, phát triển nuôi biển yêu cầu phải chuyển từ nghề cá nhân dân sang nghề cá thương mại. Bởi vậy nó gắn với việc giao khu vực biển, các địa phương cần các hướng dẫn cụ thể, minh bạch về các tiêu chuẩn, quy chuẩn để triển khai thực hiện mới không gặp những vướng mắc phát sinh…

Chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030 rõ ràng là một bước chuyển quan trọng để phát triển từ nghề cá sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa lớn, bền vững và là xu thế không thể khác khi Việt Nam đang hướng tới là một trong những trung tâm sản xuất và chế biến thủy sản hàng đầu của khu vực và quốc tế.

Vượt qua những thách thức lớn nhỏ, năm 2022 là năm thứ hai ngành thủy sản Việt Nam thực hiện chương trình này với nhiều tín hiệu tích cực, khi tất cả chỉ tiêu đều đạt vượt mức đề ra, nổi bật là giá trị xuất khẩu đạt mức kỷ lục trong lịch sử - cán mốc gần 11 tỷ USD, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2021. Đặc biệt, đến nay diện tích nuôi biển đạt khoảng 9 triệu m³ lồng, sản lượng nuôi trồng đạt tới 5,19 triệu tấn, tăng 7% so với năm 2021 và cũng là mức cao kỷ lục từ trước đến nay… ■

Có thể bạn quan tâm

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC). (Ảnh: LÊ CHI)

Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển chuỗi giá trị trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi

Vai trò của chuỗi giá trị công nghiệp, dịch vụ điện gió ngoài khơi và sản xuất điện đều rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Đây là khẳng định của ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) tại cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân.

Bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng, Cục Thống kê. (Ảnh: PV)

Tăng trưởng sản xuất công nghiệp diễn ra trên diện rộng và có tính lan tỏa thực chất

Đánh giá tổng quan từ kết quả sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2026 cho thấy, tăng trưởng mang tính lan tỏa tương đối rộng rãi trên cả nước, các địa phương, các ngành kinh tế, các khu vực doanh nghiệp. Điều này tạo niềm tin và kỳ vọng lớn cho đà tăng trưởng tiếp theo của các ngành sản xuất công nghiệp trong quý cuối năm.

(Ảnh: NGỌC BÍCH)

Giá vàng giảm liên tiếp, người mua lỗ hơn 8 triệu đồng/lượng sau 1 tháng

Tuần này, giá vàng thế giới tiếp tục giảm, đóng cửa ở mức 4.139,80 USD/ounce khi áp lực từ việc lợi suất trái phiếu kho bạc tăng, đồng USD mạnh hơn và kỳ vọng về việc FED tăng lãi suất đã lấn át nhu cầu trú ẩn an toàn. Trong nước, giá vàng miếng SJC giảm 900.000 đồng/lượng so tuần trước và giảm hơn 5 triệu đồng trong tháng 9.

Thi công bên trong nhà ga hành khách sân bay Long Thành.

Dự kiến vận hành thương mại sân bay Long Thành vào cuối tháng 12 năm nay

Sau khi thị sát công trường, trưa 4/10, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cùng Đoàn công tác đã có cuộc làm việc với các bộ, ngành, đơn vị, địa phương liên quan về tiến độ Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, để khai thác thương mại vào cuối tháng 12 tới theo dự kiến.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê. (Ảnh: PV)

Tăng tốc để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm từ 10%

Trao đổi với báo chí về kết quả tăng trưởng GDP, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê nhấn mạnh: Để về đích với mục tiêu từ 10% theo Nghị quyết của Quốc hội, quý IV đối mặt áp lực tăng trưởng rất lớn, đòi hỏi các nguồn lực phải nhanh chóng chuyển hóa thành sản lượng và giá trị thực tế.

Chính sách tài chính góp phần giảm chi phí, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh. (Ảnh: MP)

Giảm chi phí, khơi thông nguồn lực cho doanh nghiệp

Bước vào quý IV, hỗ trợ doanh nghiệp đặt ra yêu cầu đồng thời giảm áp lực tài chính và tháo gỡ vướng mắc trong thực thi chính sách. Các giải pháp thuế, cải cách thủ tục và đẩy nhanh đầu tư công cần được cụ thể hóa bằng nguồn lực doanh nghiệp có thể sử dụng, thời gian và chi phí thực tế được tiết giảm.

Dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền (bên trái) cùng công nhân kiểm tra cây trà hoa vàng. (Ảnh: XUÂN KỲ)

Gắn nghiên cứu với bảo tồn dược liệu

Ngày 2/10, dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền, Phó Giám đốc phụ trách Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Sóc Sơn, được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tôn vinh “Nhà khoa học của nhà nông” lần thứ VII, năm 2026. 

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Tăng trưởng GDP tiệm cận mục tiêu cả năm

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao nhờ các động lực tăng trưởng truyền thống là đầu tư công, xuất khẩu-công nghiệp; dịch vụ. Bên cạnh đó, các động lực tăng trưởng mới, gồm khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, có tác dụng hỗ trợ cho tăng trưởng.

Du khách mua nem và các sản phẩm tại cơ sở nem Hoàng Khánh, xã Lai Vung. (Ảnh: MỸ HÀ)

Đất sen hồng xây thương hiệu nghề truyền thống

Một chiếc nem nhỏ, gói trong lá chuối, mang vị chua thanh, chút cay nồng của tỏi ớt và độ giòn dai đã đi một hành trình hơn 65 năm để trở thành đặc sản nổi tiếng của tỉnh Đồng Tháp. Từ một món ăn dân dã, nghề thủ công truyền thống làm nem Lai Vung dần hình thành và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Rừng đước nguyên sinh ở Cà Mau. (Ảnh: TRẦN THƯỜNG)

Chú trọng bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng

Những năm 90 của thế kỷ trước, những cánh rừng nhiệt đới bạt ngàn trên khắp đất nước ta bị sụt giảm nghiêm trọng. Thế nhưng, bằng những nỗ lực không ngừng nghỉ, Việt Nam không chỉ phục hồi diện tích rừng đã mất mà còn từng bước xây dựng ngành kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững.

Giàn khoan dầu khí ngoài biển của Petrovietnam. (Ảnh: HIỀN ANH)

Petrovietnam gia tăng trữ lượng hơn 75,7 triệu tấn dầu giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhận định những thuận lợi, thách thức hoạt động thăm dò, khai thác, Petrovietnam định hướng tiếp tục phát triển, kết nối các mỏ nhỏ với hạ tầng sẵn có; triển khai các chính sách khuyến khích đối với mỏ cận biên và giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu (EOR),... qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động.

Doanh nghiệp chuyển phát nhanh thực hiện khai báo và nộp thay thuế cho chủ hàng theo quy định. (Ảnh: CHQ)

Chuẩn hóa khai báo hải quan với hàng chuyển phát nhanh

Từ ngày 16/11/2026, thủ tục hải quan đối với hàng bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế có thêm yêu cầu định danh, xác thực điện tử và điều chỉnh cơ chế nộp thay thuế, phí. Những thay đổi đặt ra yêu cầu chuẩn bị đồng bộ về thông tin khai báo, phối hợp chủ hàng và thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Trạm thu phí cao tốc không dừng cao tốc bắc-nam phía đông ứng dụng công nghệ AI thu phí tự động, không cần nhân viên thu phí như trước đây.

Cao tốc bắc-nam phía đông tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam

Theo Cục Đường bộ Việt Nam, lưu lượng phương tiện trên cao tốc bắc-nam phía đông trong tháng 9/2026 giảm so tháng 8, chủ yếu do yếu tố mùa vụ. Tuy nhiên, so với mức bình quân trong 7 tháng triển khai thu phí, lưu lượng trên cao tốc vẫn tăng 3,7%, cho thấy tuyến đường tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên hành lang vận tải bắc-nam.

Dây chuyền sản xuất hiện đại của Công ty TNHH dệt kim Bangjie Việt Nam, khu công nghiệp dệt may Phố Nối, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Phạm Hà)

Hưng Yên tăng trưởng kinh tế hơn 11%

Theo thống kê tỉnh Hưng Yên, GRDP 9 tháng đầu năm của tỉnh Hưng Yên ước tính tăng 11,22%; tăng trưởng kinh tế tiếp tục duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 10,59%, quý II tăng 11,00%).

Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ theo mô hình kinh tế xanh. (Ảnh: CAO TÂN)

Kinh tế tuần hoàn, động lực chuyển đổi xanh

Trước yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng xanh và giảm phát thải khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn đang trở thành một định hướng phát triển có ý nghĩa chiến lược đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ là giải pháp quản lý môi trường, kinh tế tuần hoàn ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng của đổi mới mô hình tăng trưởng đổi xanh.