Nói về anh Võ Văn Kiệt(*)

Tôi và anh Võ Văn Kiệt có chung hoàn cảnh gần giống nhau: hoàn cảnh gia đình cũng như quá trình tham gia hoạt động cách mạng. Gia đình tôi là nông dân, nhà nghèo. Lúc nhỏ phải đi làm thuê, làm thợ để kiếm sống và giúp đỡ gia đình. Hoàn cảnh gia đình anh Kiệt cũng vậy. Cả hai chúng tôi đều sớm tham gia hoạt động cách mạng.

Trong quá trình hoạt động cách mạng nước năm 1944 và trong thời kỳ chống Pháp, tôi hoạt động ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, còn anh Kiệt thì hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ tôi được Trung ương giao nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Lúc đó, anh Võ Văn Kiệt là một trong những đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng tại miền Nam.

Trong những năm đầu cách mạng cũng như trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tôi có được nghe nhiều về anh Kiệt, nhưng hai anh em chúng tôi ít có điều kiện gặp nhau. Mãi đến năm 1987 anh Kiệt được Trung ương điều ra công tác ở Chính phủ giữ chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng và Chủ nhiệm ủy ban Kế hoạch Nhà nước thì chúng tôi mới gần nhau và có nhiều thời gian làm việc với nhau.

Anh Kiệt là con người năng động, luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và làm việc hết sức mình. Có thể nói: anh Kiệt là người dám nghĩ, dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám tự phê bình.

Nói về anh Võ Văn Kiệt, nhiều người ca ngợi anh là con người rất thực tiễn, con người của công việc, miệng nói tay làm, không hay lý luận. Nhưng khi làm việc, chỉ đạo điều hành hoặc xử lý về đối nội hay đối ngoại thì anh đã thể hiện một cách nhất quán những tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc của Đảng một cách sinh động triệt để. Nói anh Kiệt là con người thực tiễn, bởi vì cả cuộc đời anh đã luôn gắn bó với dân, gắn bó với phong trào. Anh đã kinh qua nhiều lĩnh vực công tác: công tác đảng, đoàn thể, chính quyền, công tác ở quân đội. Chính vì qua những môi trường công tác từng trải như vậy đã tích lũy cho anh những kinh nghiệm, những sáng tạo trong công việc của mình.

Tuy không có điều kiện được học tập và tốt nghiệp ở các nhà trường, nhưng anh Kiệt cũng là một người chịu khó học tập từ thực tiễn. Đặc biệt là anh biết khai thác trí tuệ ở trong dân, trong cán bộ, trong các giới khoa học-kỹ thuật…từ đó mà nảy sinh ra những suy nghĩ chín chắn, đưa đến những quyết định chính xác.

Anh Kiệt là con người năng động, luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và làm việc hết sức mình. Có thể nói: anh Kiệt là người dám nghĩ, dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám tự phê bình.

Điều này thể hiện ở chỗ: Khi làm Thủ tướng, anh đã chỉ đạo hình thành các tổng công ty mạnh, thể hiện quan điểm kinh tế Nhà nước phải luôn giữ vai trò chủ đạo, hoặc cho các đơn vị quân đội làm kinh tế kết hợp với quốc phòng (như Binh đoàn 15...).

- Vấn đề cấm đốt pháo, anh là người đề xuất ý kiến và chỉ đạo thực hiện.

- Vấn đề xây dựng đường dây tải điện Bắc-Nam (500kV), khi tôi lên thăm Nhà máy thủy điện Hòa Bình, lúc bấy giờ nhà máy đã lắp được 4/8 tổ máy mà chỉ mới tải điện được 3 tổ máy. Trong lúc đó miền Trung và miền Nam đang thiếu điện. Tôi nhắc và bàn với anh Kiệt tập trung sức xây dựng đường dây 500KV đã có trong tổng sơ đồ mạng lưới điện quốc gia, thì anh là người đứng ra tổ chức triển khai và quyết tâm làm, mặc dù lúc đó vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Anh dám chịu trách nhiệm trước công việc mới mẻ này.

- Vấn đề khai thác vùng Đồng Tháp Mười cũng thể hiện ở chỗ anh là người đã từng lăn lộn với thực tế, thấu hiểu được lòng dân. Khi đã thấy đây là vấn đề hữu ích là anh dám làm và làm một cách quyết liệt.

Trong sinh hoạt Chính phủ hay sinh hoạt Bộ Chính trị, anh là người thẳng thắn, dám đấu tranh phê bình và dám tự phê bình.

Thời kỳ sau Đại hội VI trở đi là thời kỳ triển khai công cuộc đổi mới rất mạnh, mà trọng tâm là đổi mới về kinh tế. Có một việc lớn ở thời kỳ này là chống lạm phát. Ta đang đứng trước một thực trạng rất khó khăn là kinh tế kiệt quệ, cung không đủ cầu, tiền nhiều, hàng ít, lạm phát đến 774%, khủng hoảng nghiêm trọng, cũng là lúc Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cắt hoàn toàn viện trợ, với Trung Quốc thì chưa bình thường hóa, Mỹ thì bao vây. Bây giờ giải quyết thế nào. Lúc đó có nhiều ý kiến. IMF họ nói phải có ba tỷ đôla mới giải quyết được lạm phát. Ba tỷ đô-la lúc bấy giờ lấy đâu ra. Lúc đó tôi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, anh Kiệt là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách kế hoạch. Tôi có bàn với anh Kiệt về biện pháp chống lạm phát và anh Kiệt cũng đồng ý với tôi chỉ có biện pháp duy nhất là phát huy nội lực, dựa vào dân, động viên nhân dân bằng lợi ích để tạo ra những tiềm năng mới và đó cũng là tư tưởng của Bác Hồ: "Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong". Chúng tôi đặt ra mấy vấn đề và báo cáo Bộ Chính trị:

Trước hết , đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm. Về nông nghiệp, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế khoán hộ. Thế là sản xuất bung ra, ta giải quyết được căn bản vấn đề lương thực.

Hai là, khai thác mọi nguồn hàng trong nước và ngoài nước. Lúc bấy giờ ai ra nước ngoài thì khuyến khích mang hàng về. Nhà nước không đánh thuế. Vì thế chỉ trong một thời gian ngắn dân mình mang hàng về rất nhiều. Sau một năm tình hình hàng tiêu dùng đã đỡ căng thẳng.

Ba là, thu hút tiền nhiều ở trong dân. Chúng tôi chủ trương nâng lãi suất tiết kiệm từ 3% lên 9% ngang với mức giá của hàng hóa. Nếu ai gửi ba tháng thì thêm 3% nữa là 12%. Vậy là dân yên tâm và gửi tiền vào ngân hàng rất nhiều.

Tôi có bàn với anh Kiệt về biện pháp chống lạm phát và anh Kiệt cũng đồng ý với tôi chỉ có biện pháp duy nhất là phát huy nội lực, dựa vào dân, động viên nhân dân bằng lợi ích để tạo ra những tiềm năng mới và đó cũng là tư tưởng của Bác Hồ: "Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong".

Như vậy hàng thiếu thì dân chạy hàng, tiền của dân nhiều thì dân gửi vào Nhà nước. Còn Đảng và Nhà nước thì bảo đảm lợi ích cho dân: quy định nghiêm ngặt ngân hàng chỉ được nhận tiền gửi mà cho vay, tài chính chỉ thu mà chi, không được in thêm tiền... Và thế là từ chỗ lạm phát 774% giảm xuống chỉ còn mấy chục phần trăm.

Tình hình thế giới và trong nước vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX có nhiều sự kiện quan trọng và diễn biến phức tạp. Có những sự kiện nổi bật và quan trọng như việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, việc ta tham gia ASEAN, vấn đề bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ...

Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc được tiến hành từng bước, nhất là sau Hội nghị cấp cao ở Thành Đô trở đi. Đặc biệt, từ ngày 5 đến 10/11/1991, tôi và anh Võ Văn Kiệt dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Chính phủ Việt Nam thăm chính thức Trung Quốc. Hai bên ra Thông cáo chung đánh dấu quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam và Trung Quốc được bình thường hóa toàn diện. Chuyến thăm có ý nghĩa to lớn đối với quan hệ Việt Trung.

Cuộc gặp này có đặt ra nhiều vấn đề trong đó có vấn đề giải quyết biên giới trên bộ và vịnh Bắc Bộ, vấn đề hợp tác kinh tế văn hóa, khoa học - kỹ thuật...

Về việc ta gia nhập ASEAN. Khó khăn và thách thức đối với Việt Nam lúc này càng trở nên to lớn hơn khi Liên Xô và Đông Âu tan vỡ, Việt Nam mất chỗ dựa về cả an ninh, quân sự, ngoại giao, kinh tế... mất nguồn viện trợ chủ yếu. Lợi ích của Việt Nam lúc này là hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó chúng ta phải tìm mọi cách phá thế bao vây cô lập, mở rộng quan hệ bạn bè. Vì vậy, chính sách khu vực mà trước hết là chính sách đối với tổ chức ASEAN sẽ khai thông và bắc cầu cho việc mở rộng quan hệ đối ngoại, phục vụ cho nhiệm vụ đối ngoại; là tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, tận dụng mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước. Hơn nữa, việc "thêm bạn bớt thù", Việt Nam sẽ có nhiều điều kiện tốt hơn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, có thể nói ta tham gia ASEAN có tầm quan trọng chiến lược trong chính sách khu vực của Việt Nam. Đó là một quyết sách chiến lược kịp thời và đúng đắn của Bộ Chính trị.

Anh Kiệt quả là một vị Thủ tướng giàu thực tiễn, có tài năng, một nhà hoạt động chính trị tầm cỡ của Đảng và Nhà nước được nhân dân trong nước và thế giới ca ngợi.

Trong quá trình ta tham gia ASEAN, vai trò của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có nhiều đóng góp quan trọng. Anh đã thay mặt Chính phủ đi dự nhiều cuộc họp các nguyên thủ trong khối ASEAN, tiếp nhiều đoàn khách quốc tế trong khu vực và thế giới.

Về quan hệ Việt-Mỹ. Trong suốt quá trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bàn luận nhiều lần. Cá nhân tôi và anh Kiệt đã trực tiếp chỉ đạo cả về những mục tiêu và phương châm chiến lược lớn cũng như trong việc xử lý các vấn đề cụ thể với Mỹ (như vấn đề MIA, Campuchia, tài sản, lập cơ quan liên lạc, trao đổi đại sứ...) và trực tiếp gửi đến Chính phủ và nhân dân Mỹ nhiều thông điệp hết sức quan trọng liên quan đến thiện chí và chính sách đối ngoại của ta. Bộ Ngoại giao đã phối hợp với nhiều bộ, ngành và các địa phương trên cả nước triển khai thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng và Nhà nước, buộc Mỹ bình thường hóa với ta, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Có thể nói trong quá trình công tác, tôi và anh Kiệt phối hợp công việc với nhau rất chặt chẽ; kể từ khi tôi công tác bên Chính phủ cũng như khi tôi về bên Đảng làm Tổng Bí thư, chúng tôi thường xuyên trao đổi với nhau, có khi đang đêm cũng gọi điện cho nhau, có khi gặp nhau tại sân bóng...

Anh Kiệt quả là một vị Thủ tướng giàu thực tiễn, có tài năng, một nhà hoạt động chính trị tầm cỡ của Đảng và Nhà nước được nhân dân trong nước và thế giới ca ngợi.

---------

* Bài đăng trên Báo Nhân Dân ngày 14/6/2008, tr.1, 3.

Võ Văn Kiệt - Một nhân cách lớn; nhà lãnh đạo tài năng; suốt đời vì nước vì dân (hồi ký). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật

Có thể bạn quan tâm

99,996% cử tri ở Huế tham gia bỏ phiếu bầu.

“Ngày hội non sông” của Việt Nam thu hút truyền thông quốc tế

Là sự kiện chính trị quan trọng, diễn ra ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 thu hút sự quan tâm của truyền thông quốc tế.

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh thực hiện quyền bỏ phiếu tại Tổ bầu cử số 9 thuộc đơn vị bầu cử số 19 (Xã Phước Vĩnh Tây, Phước Lý, Mỹ Lộc).

Tây Ninh: Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử đạt 99,58%

Ủy ban bầu cử tỉnh Tây Ninh cho biết, đến 19 giờ ngày 15/3, toàn tỉnh đã kết thúc thời gian bỏ phiếu bầu cử Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 với tỷ lệ cử tri tham gia đạt 99,58%.

99,996% cử tri ở Huế tham gia bỏ phiếu bầu.

Huế: 99,996% cử tri tham gia bầu cử

Tại thành phố Huế, ba đơn vị chưa đạt tỷ lệ tuyệt đối gồm phường Thuận Hóa còn 2 cử tri chưa tham gia bỏ phiếu, phường Phú Xuân còn 3 cử tri và xã A Lưới 5 còn 29 cử tri.

[Video] Thời sự 24h ngày 15/3/2026: Tổng Bí thư: Lựa chọn người đủ uy tín gánh vác công việc chung của đất nước

[Video] Thời sự 24h ngày 15/3/2026: Tổng Bí thư: Lựa chọn người đủ uy tín gánh vác công việc chung của đất nước

Bản tin cập nhật những vấn đề thời sự nổi bật: Tổng Bí thư: Lựa chọn người đủ uy tín gánh vác công việc chung của đất nước; Chủ tịch nước Lương Cường bỏ phiếu bầu cử tại phường Hoàn Kiếm, Hà Nội;  Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng cử tri bỏ phiếu bầu cử tại phường Tây Hồ, Hà Nội

Cử tri khiếm thính trên địa bàn phường Bình Thạnh trực tiếp bỏ những lá phiếu bầu những người đại diện ưu tú cho chính mình.

Thành phố Hồ Chí Minh: Một số địa phương đã đạt tỷ lệ bỏ phiếu 100%

Tính đến 15 giờ ngày 15/3, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt 77,86%. Như vậy, so với thời điểm 11 giờ 30 phút trưa nay thì tỷ lệ cử tri đi bầu cử đã tăng 33,83%, cho thấy cử tri tham gia bỏ phiếu ngày càng đông, tiến độ bỏ phiếu diễn ra nhanh, thuận lợi và được duy trì tốt tại các khu vực bỏ phiếu.

Các chức sắc tôn giáo ở Hà Tĩnh hăng hái tham gia "Ngày hội non sông".

Chức sắc tôn giáo Hà Tĩnh hăng hái tham gia Ngày hội bầu cử

Hòa chung không khí phấn khởi của Ngày hội bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đông đảo chức sắc, chức việc trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã tích cực tham gia bỏ phiếu, thể hiện tinh thần trách nhiệm công dân và sự đồng hành cùng sự phát triển của quê hương, đất nước.

5/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ cử tri đi bầu đạt sát mức 100%

5/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ cử tri đi bầu đạt sát mức 100%

Đến 16 giờ ngày 15/3, đã có gần 71,4 triệu cử tri cả nước tham gia bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đạt tỷ lệ 93,19%. Trong đó, 5/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ cử tri đi bầu đạt sát mức 100%.

Cử tri xã Hòa Thịnh, tỉnh Đắk Lắk bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031.

Đến 16 giờ 45 phút ngày 15/3: Đắk Lắk có 48 xã, phường đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cử 100%

Theo báo cáo nhanh của Ủy ban Bầu cử tỉnh Đắk Lắk, tính đến 16 giờ 45 phút ngày 15/3, trên địa bàn toàn tỉnh có 2.241.062/2.272.087 cử tri đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031, đạt 98,63%; có 48/102 xã, phường có tỷ lệ cử tri đi bầu cử đạt 100%.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình và Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà thực hiện bỏ phiếu bầu cử.

Sáng suốt lựa chọn những đại biểu tiêu biểu

Sáng 15/3, toàn bộ các tổ bầu cử trên địa bàn phường Phúc Lợi (thành phố Hà Nội) đồng thời khai mạc ngày hội non sông để mỗi công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, trực tiếp lựa chọn những đại biểu ưu tú, có đức, có tài, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Đồng bào vùng cao A Lưới, thành phố Huế bỏ phiếu bầu.

Huế: Đến 16 giờ, hơn 97,8% cử tri đã tham gia bầu cử

Đến 16 giờ ngày 15/3, toàn thành phố Huế có 948.877/969.927 cử tri đi bầu, đạt tỷ lệ 97,83%. Thông tin trên được ông Nguyễn Văn Mạnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Thư ký Ủy ban Bầu cử thành phố Huế cho biết. Các khu vực bỏ phiếu tiếp tục mở cửa đến 19 giờ để người dân sắp xếp công việc, thực hiện quyền công dân.