Ngành lúa gạo trước áp lực phát thải và cơ hội bứt phá xanh

Sản xuất lúa gạo đang đứng trước một ngã rẽ quan trọng: Hoặc tiếp tục theo hướng canh tác truyền thống với mức phát thải cao, hoặc chuyển đổi mạnh mẽ sang các mô hình sản xuất phát thải thấp, thân thiện với môi trường. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, việc phát triển các mô hình sản xuất lúa ít phát thải không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững trong dài hạn.
Thu hoạch lúa hè thu tại thành phố Cần Thơ. (Ảnh: THANH TÂM)
Thu hoạch lúa hè thu tại thành phố Cần Thơ. (Ảnh: THANH TÂM)

Lúa gạo – ngành hàng chủ lực đối mặt yêu cầu giảm phát thải

Lúa gạo từ lâu đã là ngành hàng chủ lực trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, không chỉ góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, mà còn đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và xuất khẩu. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt khoảng 5,66 tỷ USD với sản lượng gần 9 triệu tấn, khẳng định vị thế ngày càng vững chắc của ngành hàng này trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, song hành với những kết quả tích cực là những thách thức không nhỏ về môi trường. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, hoạt động canh tác lúa chiếm tới 48% tổng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó khí metan (CH₄) - loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính mạnh gấp nhiều lần so với CO₂ - chiếm hơn 75%. Đây là con số đáng lưu ý trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế về ứng phó biến đổi khí hậu.

Tỉnh Tiền Giang triển khai đề án 1 triệu ha lúa.
Tỉnh Tiền Giang triển khai đề án 1 triệu ha lúa.

Những năm gần đây, một số mô hình sản xuất lúa phát thải thấp đã được triển khai thử nghiệm và ghi nhận kết quả khả quan. Trong đó, nổi bật là mô hình tưới ngập-khô xen kẽ (AWD) kết hợp xử lý rơm rạ sau thu hoạch thay vì đốt hoặc để phân hủy ngoài đồng. Các giải pháp này không chỉ giúp giảm phát thải khí metan và nitrous oxide (N₂O), mà còn tăng hiệu quả sử dụng nước, giảm chi phí đầu vào và nâng cao năng suất.

Theo ông Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, hai yếu tố then chốt trong mô hình sản xuất lúa phát thải thấp là quản lý nước hợp lý và xử lý rơm rạ hiệu quả. Tuy nhiên, hiệu quả triển khai phụ thuộc lớn vào điều kiện hạ tầng thủy lợi và địa hình canh tác. Tại các khu vực có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, mô hình phát huy rõ hiệu quả; trong khi ở những vùng địa hình phức tạp, ruộng manh mún, việc triển khai gặp nhiều khó khăn.

Hai yếu tố then chốt trong mô hình sản xuất lúa phát thải thấp là quản lý nước hợp lý và xử lý rơm rạ hiệu quả.

Ông Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long.

Ông Thạch cho rằng: “Trong điều kiện thực tế, không nhất thiết phải áp dụng tuyệt đối 100% quy trình kỹ thuật. Nếu nông dân có thể thực hiện được 50-70% quy trình và vẫn mang lại hiệu quả giảm phát thải rõ rệt thì cũng nên được khuyến khích nhân rộng”.

Tăng cường liên kết chuỗi để hiện thực hóa mục tiêu 1 triệu ha

Một trong những định hướng chiến lược hiện nay của ngành nông nghiệp là triển khai Đề án phát triển 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp, gắn với tăng trưởng xanh tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long - khu vực chiếm hơn 50% sản lượng lúa gạo của cả nước.

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, nhận định: Đây là một bước đi đúng đắn, mang tính chiến lược lâu dài. Thời gian qua, các hoạt động từ truyền thông, xây dựng mô hình, đến hoạch định kế hoạch trung và dài hạn đã được triển khai đồng bộ và bước đầu cho thấy tính khả thi cao.

Tuy nhiên, sau một năm triển khai, theo đánh giá của Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm. Đáng chú ý là vai trò và sự tham gia của các thành tố trong chuỗi giá trị hiện nay vẫn chưa thật sự rõ nét. Việc triển khai chủ yếu mới dừng lại ở một số chủ thể như nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đầu vào và đơn vị nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, mắt xích quan trọng là doanh nghiệp tiêu thụ và liên kết tiêu thụ lúa gạo quy mô lớn vẫn chưa được nhấn mạnh đúng mức.

Các mô hình thí điểm Đề án 1 triệu ha vẫn còn quy mô hạn chế - chỉ vài trăm đến vài nghìn ha, hoặc vài chục nghìn tấn lúa.

Các mô hình thí điểm Đề án 1 triệu ha vẫn còn quy mô hạn chế - chỉ vài trăm đến vài nghìn ha, hoặc vài chục nghìn tấn lúa.

Hiện tại, các mô hình thí điểm vẫn còn quy mô hạn chế - chỉ vài trăm đến vài nghìn ha, hoặc vài chục nghìn tấn lúa. Trong khi mục tiêu của Đề án là đạt 1 triệu ha, sản lượng khoảng 13 triệu tấn lúa mỗi năm. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các nội dung về kỹ thuật, tổ chức sản xuất và liên kết thị trường, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc mở rộng và nhân rộng mô hình trên toàn vùng.

Một trong những thách thức khác là thiếu các công cụ đồng bộ để đo lường phát thải, dẫn tới khó khăn trong đánh giá hiệu quả thực tế. Ông Tùng chia sẻ: “Nếu không có công cụ minh bạch để tính toán và xác nhận lượng khí nhà kính được cắt giảm, thì rất khó để tiếp cận thị trường tín chỉ carbon - một hướng đi có tiềm năng gia tăng thu nhập cho người nông dân”.

Ngoài ra, theo các chuyên gia, sự tham gia của các thành phần trong chuỗi giá trị vẫn chưa đầy đủ. Trong khi nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu vào đã tham gia khá tích cực, thì các doanh nghiệp tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu vẫn chưa được kết nối chặt chẽ vào hệ thống. Điều này sẽ là một rào cản lớn nếu muốn mở rộng đề án trên quy mô lớn trong thời gian tới.

Ở góc độ khoa học, ông Trần Ngọc Thạch nhận định: Quy trình kỹ thuật hiện tại có thể được xem là tạm chấp nhận được, trong điều kiện chưa có nhiều nghiên cứu sâu để cải thiện. Tuy nhiên, để áp dụng hiệu quả trong thực tế sản xuất, cần xây dựng bộ thông số kỹ thuật linh hoạt, có thể điều chỉnh theo điều kiện cụ thể từng vùng.

“Việc áp dụng linh hoạt từ 50 đến 70% quy trình kỹ thuật, nếu đạt hiệu quả giảm phát thải, cần được khuyến khích thay vì áp dụng cứng nhắc. Bởi nếu không linh hoạt, sẽ rất khó để triển khai đồng loạt trên diện rộng”, ông Thạch chia sẻ.

Về dài hạn, ông Thạch cũng đưa ra một số đề xuất đó là cần áp dụng triệt để các giải pháp kỹ thuật, đòi hỏi đầu tư lớn vào hệ thống thủy lợi và tưới tiêu thông minh. Song song đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu các hướng đi về mặt sinh học như phát triển giống lúa, chế phẩm sinh học có khả năng ức chế hoạt động của vi sinh vật sinh khí metan trong điều kiện ngập nước. Đây được coi là giải pháp bền vững, có thể áp dụng không chỉ cho 1 triệu ha trong đề án, mà còn cho hơn 4 triệu ha đất lúa trên toàn quốc.

Có thể bạn quan tâm

Những năm qua, người dân trồng dứa ở Nghệ An phấn khởi khi dứa được mùa được giá.

Nghệ An nâng cao giá trị sản phẩm dứa

Tận dụng lợi thế đất đai, khí hậu và kinh nghiệm canh tác, tỉnh Nghệ An đang đẩy mạnh phát triển cây dứa theo hướng hàng hóa quy mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến sâu và liên kết tiêu thụ.

Kỳ nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4-1/5, tổng sản lượng vận chuyển của toàn thị trường hàng không đạt 1,68 triệu khách và 27,45 nghìn tấn hàng hóa.

Tổng sản lượng thị trường ngành hàng không đạt 1,68 triệu khách dịp nghỉ lễ

Ngày 3/5, Cục Hàng không Việt Nam cho biết, kỳ nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4-1/5 (từ ngày 25 đến 27/4 và 30/4 đến 3/5), tổng sản lượng vận chuyển của toàn thị trường hàng không đạt 1,68 triệu khách và 27,45 nghìn tấn hàng hóa, tương ứng tăng 2,2% về sản lượng hành khách và tăng 7,2% về hàng hóa so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 so cùng kỳ năm 2025. (Nguồn: Cục Thống kê)

Bốn tháng đầu năm 2026, cả nước có 41,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cung cấp, bốn tháng đầu năm 2026, cả nước có 41,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong bốn tháng năm 2026 lên hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng tư tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. (Ảnh: minh họa)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng tư tăng 0,84%

Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng tư tăng 0,84% so với tháng trước chủ yếu do giá gas trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới, giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào, vận chuyển tăng.

Chế biến cá xuất khẩu. (Ảnh: nhandan.vn)

Bốn tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD

Trong tháng tư, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 94,32 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước; cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu.

Nông dân xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh trồng đậu xanh thành công theo mô hình được Trung tâm Khuyến nông quốc gia hỗ trợ. (Ảnh: BẢO HÂN)

Hiệu quả từ chương trình, dự án khuyến nông

Những năm qua, nhiều chương trình, dự án khuyến nông thực hiện thành công đã mở ra hướng sản xuất mới, hiệu quả ở các địa phương. Trên thực tế, mô hình sản xuất thí điểm áp dụng công nghệ cao, quy trình canh tác tiên tiến… giúp giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho người dân.

[Video] Nợ thuế từ 1 triệu đồng có thể tạm hoãn xuất cảnh

[Video] Nợ thuế từ 1 triệu đồng có thể tạm hoãn xuất cảnh

Bộ Tài chính vừa công bố dự thảo mới quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Quản lý thuế. Đáng chú ý, dự thảo đề xuất bổ sung quy định tạm hoãn xuất cảnh đối với người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nhưng còn nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên.

Chủ tịch Hội đồng thành viên EVNSPC Lê Văn Trang thăm và động viên cán bộ, kỹ sư, công nhân thi công tại dự án điện dịp Lễ 30/4 và 1/5.

Đồng bộ nhiều giải pháp để tăng năng lực cung ứng điện cho miền nam

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng trưởng mạnh mẽ cùng áp lực từ biến đổi khí hậu và các đợt nắng nóng cực đoan, ngành điện miền nam đã và đang triển khai hàng loạt giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm cung ứng điện ổn định, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đời sống người dân.

Chỉ số MXV-Index.

MXV-Index tăng phiên thứ 10 liên tiếp, duy trì trên vùng cao kỷ lục 2.900 điểm

Bất chấp áp lực lạm phát và việc Fed duy trì lãi suất ở mức cao, dòng tiền đầu tư vẫn chảy về thị trường hàng hóa. Lực mua chiếm ưu thế, kéo giá bạch kim bật tăng mạnh, tiến sát mốc 2.000 USD/ounce sau chuỗi 5 phiên giảm, trong khi giá cao su duy trì đà đi lên nhờ tác động từ dầu mỏ và nhu cầu xe năng lượng mới.