Ngành bán dẫn đang thay đổi nhanh chóng nhờ trí tuệ nhân tạo

Tại Hội nghị quốc tế về Trí tuệ nhân tạo và Bán dẫn (AISC) 2025 diễn ra sáng 12/3, do Aitomatic (Mỹ) và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) tổ chức tại Hà Nội, các chuyên gia về công nghệ đã bàn về mối quan hệ cộng sinh trong phát triển trí tuệ nhân tạo (AI )và bán dẫn.
Quang cảnh Hội nghị quốc tế về Trí tuệ nhân tạo và Bán dẫn.
Quang cảnh Hội nghị quốc tế về Trí tuệ nhân tạo và Bán dẫn.

Tại Hội nghị, các ý kiến đều khẳng định AI và bán dẫn hiện đang là trụ cột cho tương lai của nền kinh tế số. Đặc biệt, hai thành tố “AI” và “bán dẫn” có sự song hành. Dễ thấy nhất, AI giúp tự động hóa quá trình sản xuất bán dẫn, dự đoán và phát hiện lỗi sản phẩm, cải thiện chất lượng và hiệu suất sản xuất.

Ông Christopher Nguyễn - CEO của Aitomatic nêu thí dụ, đến năm 2030, một số nhà máy sản xuất, đặc biệt là những cơ sở sản xuất tiên tiến, sẽ yêu cầu những tiêu chuẩn khắt khe hơn. Chẳng hạn trong quy trình xử lý bằng plasma, các thông số như đường kính nhiên liệu, áp suất, nhiệt độ và hàng chục yếu tố khác để đảm bảo độ chính xác gần như tuyệt đối. AI sẽ góp phần đảm bảo sự chính xác này.

“AI không thể phát triển nếu không có bán dẫn, và ngược lại, ngành bán dẫn đang thay đổi nhanh chóng nhờ những tiến bộ trong AI. Đây là một mối quan hệ cộng sinh, nơi cả hai cùng thúc đẩy nhau tiến lên”, ông nói

Ông Christopher Nguyễn - CEO của Aitomatic phát biểu tại Hội thảo.

Ông Christopher Nguyễn - CEO của Aitomatic phát biểu tại Hội thảo.

Về bức tranh công nghệ nói chung, ông Christopher Nguyễn dẫn quy luật Moore, khẳng định tốc độ phát triển của AI và bán dẫn đang rất nhanh chóng. Cứ mỗi 18 tháng, công nghệ vi xử lý lại có sự cải tiến đáng kể.

Còn về thị trường, thế giới đang chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc với nhu cầu chip xử lý AI dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới. Những nước như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đang đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực này. Cuộc đua giữa các quốc gia hàng đầu về công nghệ vô cùng gay cấn.

Trong lĩnh vực sản xuất chip, bà Anna Goldie - chuyên gia cấp cao về nghiên cứu khoa học, Google - nhận định rằng trong khi nhu cầu tính toán của AI đang tăng trưởng theo cấp số nhân, năng lực phần cứng lại không theo kịp, tạo ra một khoảng cách ngày càng lớn. Để giải quyết vấn đề này, các công nghệ AI mới như AlphaChip - một phương pháp thiết kế chip bằng AI - đã được giới thiệu. Bà cho rằng nhờ ứng dụng AI, quá trình thiết kế chip được tăng tốc đáng kinh ngạc, đồng thời giúp giảm chi phí và tối ưu hóa hiệu suất.

“Để khai thác tối đa tiềm năng của AI, cần rút ngắn chu kỳ thiết kế chip, cải tiến các thuật toán và tận dụng tối đa dữ liệu. Trong tương lai, AI không những giúp cải tiến phần cứng còn góp phần định hình những đột phá trong nhiều lĩnh vực khác, từ y tế, tài chính đến sản xuất công nghiệp”, bà Anna Goldie nói.

Cụ thể, bà Anna Goldie giới thiệu phương pháp AlphaChip sử dụng AI để tối ưu hóa bố cục linh kiện trên chip, giúp giảm độ trễ, tiết kiệm điện năng và tối ưu diện tích sản xuất. AI có thể cải thiện quá trình thiết kế chip bằng cách rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu suất sản phẩm. AlphaChip đã được áp dụng vào các thế hệ Google TPUs gần đây, mang lại hiệu quả đáng kể so với phương pháp thiết kế truyền thống.

Trong khi đó, ông Trần Thanh Long - Giáo sư Đại học Warwick - chia sẻ thêm về những nỗ lực trên thế giới đang giúp gia tăng sức mạnh cho AI và công nghệ bán dẫn. Chẳng hạn, ông đề cập cách sử dụng bộ nhớ lưu trữ (memory stores) và lý thuyết Bayes để cải thiện hiệu suất và khả năng mở rộng của trí tuệ nhân tạo (AI). Bộ nhớ lưu trữ giúp AI ghi nhớ thông tin lâu dài và sử dụng dữ liệu quá khứ để tối ưu hóa quyết định.

“Lý thuyết Bayes hỗ trợ AI trong việc điều chỉnh xác suất dự đoán dựa trên dữ liệu mới, giúp hệ thống học tập nhanh chóng và hiệu quả hơn. Sự kết hợp này làm giảm yêu cầu về tài nguyên tính toán trong khi vẫn đảm bảo độ chính xác cao”, ông Long nói.

Ngoài ra, phương pháp này giúp AI hoạt động mượt mà hơn trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, sản xuất công nghiệp, và tự động hóa. Đặc biệt, AI có thể xử lý dữ liệu tốt hơn mà không cần dựa quá nhiều vào các trung tâm dữ liệu lớn, giúp tiết kiệm chi phí và tài nguyên. Nhờ đó, các hệ thống thông minh hơn, hiệu quả hơn và có khả năng tự điều chỉnh mà không cần đến lượng dữ liệu khổng lồ.

Bà Ngân Vũ từ Google DeepMind giới thiệu một hướng nghiên cứu đề xuất sử dụng mạng nơ-ron mạch (Circuit Neural Network) để tạo ra các thiết kế mạch logic hiệu quả. Bằng cách áp dụng thuật toán mô phỏng (simulated annealing) và các kỹ thuật tối ưu hóa khác, nhóm chuyên gia của bà đang hướng đến việc rút ngắn chu trình thiết kế mạch từ khâu ý tưởng đến sản phẩm thực tế.

Một trong những thách thức lớn là cân bằng giữa độ chính xác và hiệu suất của mạch, đảm bảo rằng thiết kế không chỉ hoạt động chính xác mà còn tiết kiệm tài nguyên. Tuy nhiên, nếu có thể rút ngắn khoảng cách giữa phần mềm AI và phần cứng sẽ mở ra nhiều cơ hội mới trong ngành công nghiệp bán dẫn. “Áp dụng AI vào thiết kế mạch điện hứa hẹn sẽ thay đổi cách ngành bán dẫn hoạt động, giúp đẩy nhanh quá trình phát triển và đưa ra những thiết kế tối ưu hơn”, bà Ngân Vũ cho biết.

Có thể bạn quan tâm

Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng ký Biên bản ghi nhớ hợp tác triển khai sáng kiến trong giai đoạn khởi động.

Đà Nẵng: Khởi động sáng kiến Tech Circle thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ tại miền trung

Chiều 12/8, tại Đà Nẵng, Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng đã phối hợp khởi động sáng kiến Tech Circle thông qua chương trình Tech Circle #01. Đây là sáng kiến hướng tới việc tạo lập một không gian trao đổi thường xuyên, kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học, start-up và các tổ chức công nghệ.

Quang cảnh Hội thảo tại Hà Nội.

Xây dựng và phát triển các mạng lưới chuyên gia, trí thức trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Hội thảo là cơ hội để các bên cùng trao đổi, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, hướng tới mục tiêu không chỉ kết nối nguồn lực mà còn tạo ra các dự án, sản phẩm và kết quả hợp tác cụ thể phục vụ phát triển đất nước.

Đại diện VNPT VinaPhone và VAEDR ký kết hợp tác. (Ảnh: Ban tổ chức)

VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia định hướng thảo luận tại hội thảo. (Ảnh: NDA)

Định danh dữ liệu địa điểm để kết nối các cơ sở dữ liệu

Dữ liệu địa điểm gắn với con người, doanh nghiệp, đất đai, tài sản và nhiều hoạt động kinh tế-xã hội. Việc chuẩn hóa, định danh thống nhất và tạo khả năng liên thông lớp dữ liệu này được xác định là một yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển dịch vụ số và khai thác giá trị của dữ liệu.

Các kỹ sư giám sát hệ thống sản xuất dựa trên AI trong một nhà máy (Ảnh ADOBE STOCK)

AI với khả năng thích ứng trên thị trường lao động

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến thị trường lao động toàn cầu. Quá trình chuyển đổi số cùng những thay đổi trong nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng linh hoạt hơn. 

Nhóm nghiên cứu của kỹ sư Lưu Xuân Bình thử nghiệm thiết bị đo đạc thể tích vật liệu trên xe tải.

Những sáng chế phục vụ cộng đồng

Từ quá trình nghiên cứu, phát triển thiết bị đo thể tích vật liệu trên xe tải, kỹ sư Lưu Xuân Bình đã phát triển thành công một mã định danh dạng mẫu hình hai chiều-một lựa chọn nữa để định danh đối tượng sau mã vạch và mã QR, với đặc điểm nổi bật là tăng được khoảng cách nhận diện. 

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Đại học Công nghệ Sydney-UTS, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia. (Ảnh: Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia cung cấp)

Mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam-Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia (VASEA) kỳ vọng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa Việt Nam và Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực.

Vùng trồng cây Actiso của Công ty Traphaco Sapa đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. (Ảnh: HOÀNG TIẾN)

“Đòn bẩy”cho công nghiệp dược liệu

Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng nền y học cổ truyền lâu đời, hiện nước ta có thể xây dựng một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. (Thiết kế: Mai Huyên)

Tạo bứt phá chiến lược, đưa Việt Nam làm chủ công nghệ cốt lõi, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược vừa được ban hành với những mục tiêu bứt phá: Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp nòng cốt; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kiến trúc “vòm xanh” do kiến trúc sư An Việt Dũng thiết kế.

Kiến trúc cho đô thị xanh

Cửa thang máy tầng thượng tòa nhà 11 tầng trên phố Lê Duẩn (Hà Nội) vừa mở, đón chúng tôi không phải cái nắng chói chang buổi trưa mùa hạ mà là một không gian xanh mát. Cùng với bóng cây là hệ thống phun sương và gió trời khiến cảm giác ngột ngạt đô thị dường như biến mất.

UAV sử dụng trong tuyến giao hàng Cần Giờ-Vũng Tàu.

Nền móng vận hành kinh tế tầm thấp

Kinh tế tầm thấp mở ra một không gian phát triển mới, còn hạ tầng số chính là nền móng để không gian ấy vận hành hiệu quả. Làm chủ những hạ tầng này sẽ quyết định khả năng hình thành hệ sinh thái kinh tế tầm thấp và trở thành thước đo năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trong các ngành công nghệ chiến lược của tương lai.