Thông tin trên được ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, cho biết tại họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 16/9, khi thông tin về tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.
Hướng tới 100% thửa đất có dữ liệu
Thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg về khẩn trương tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp Bộ Công an xây dựng kế hoạch chi tiết, phân bổ nhiệm vụ cho các bộ, ngành và địa phương.
Đến nay, gần 68 triệu thửa đất đã có dữ liệu. Trong đó, khoảng 47,7 triệu thửa đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”; hơn 20 triệu thửa còn lại cần tiếp tục bổ sung thông tin, làm sạch và xác thực.
Theo ông Mai Văn Phấn, số thửa đất đạt yêu cầu hiện tương đương khoảng 70% số thửa đã có dữ liệu. Trong khi đó, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong năm 2026, nhóm thửa đã có dữ liệu phải đạt tối thiểu 80% “đúng, đủ, sạch, sống”.
“Chúng tôi thấy rằng có thể sẽ đáp ứng được, có thể đạt và vượt chỉ tiêu của Thủ tướng đặt ra”, ông Mai Văn Phấn nói.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý đất đai, khối lượng công việc hiện được chia thành hai nhóm. Với những khu vực đã có dữ liệu, các địa phương tiếp tục rà soát, bổ sung, xác thực và làm sạch để dữ liệu đạt yêu cầu. Với những nơi chưa có đầy đủ dữ liệu, phải thực hiện đo đạc mới, đo đạc bổ sung hoặc chỉnh lý bản đồ địa chính trước khi xây dựng cơ sở dữ liệu.
Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan đặt yêu cầu hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia đối với những nơi đã có dữ liệu trong năm 2026. Đối với những khu vực phải đo đạc mới, đo đạc bổ sung hoặc chỉnh lý để xây dựng dữ liệu, nhiệm vụ được thực hiện theo lộ trình tiếp theo.
Các nhiệm vụ đã được phân bổ trong kế hoạch năm 2026, gồm làm sạch dữ liệu hiện có và đo đạc tại những nơi chưa có bản đồ địa chính. Theo ông Mai Văn Phấn, trước hết phải xây dựng hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu, còn việc đồng bộ được thực hiện theo tiến độ.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là số hóa những thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận mà là xây dựng dữ liệu cho toàn bộ thửa đất, hướng tới 100% thửa đất có dữ liệu.
Cục Quản lý đất đai cũng đã hướng dẫn thu thập thông tin đối với những thửa đất được Nhà nước giao quản lý nhưng không thuộc diện cấp giấy chứng nhận, qua đó tạo lập dữ liệu phục vụ công tác quản lý.
Dữ liệu sau khi được tạo lập phải có khả năng đồng bộ từ địa phương lên Trung ương và kết nối với các hệ thống khác. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp các đơn vị của Bộ Công an thống nhất các trường dữ liệu phục vụ đồng bộ, chia sẻ, từng bước hình thành hệ thống dữ liệu đất đai có khả năng kết nối, khai thác dùng chung, thay vì tồn tại các kho dữ liệu rời rạc tại từng địa phương.
Theo Chỉ thị số 05/CT-TTg, việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai không chỉ nhằm số hóa hồ sơ mà còn phải đưa dữ liệu vào khai thác, sử dụng phục vụ giải quyết thủ tục hành chính và quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm cập nhật theo thời gian thực.
Gỡ điểm nghẽn về nhân lực, kinh phí và hạ tầng
Ông Mai Văn Phấn cho biết, quy mô triển khai trên diện rộng đang tạo áp lực lớn về nguồn lực, đặc biệt là nhân lực. Trước đây, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chủ yếu được thực hiện nhỏ lẻ, trong khi hiện nay khối lượng công việc được triển khai đồng bộ trên diện rộng.
Một số địa phương đã phải huy động thêm lực lượng hỗ trợ. Cán bộ chuyên môn phụ trách thu thập thông tin, trong khi giáo viên và sinh viên được huy động tham gia đối soát dữ liệu. Việc này nhằm bổ sung nhân lực cho khâu kiểm tra, đối chiếu thông tin, để cán bộ chuyên môn tập trung vào những phần việc đòi hỏi nghiệp vụ đất đai.
Cùng với nhân lực, kinh phí cũng là một điểm nghẽn. Dù đã có chủ trương hỗ trợ, nguồn lực thực tế tại nhiều địa phương còn hạn chế. Có nơi mới bố trí được một phần kinh phí, thậm chí phải tổ chức thực hiện trong điều kiện thiếu nguồn lực.
Thủ tục lựa chọn đơn vị tư vấn cũng là một vướng mắc. Theo ông Mai Văn Phấn, trước đây các đơn vị tư vấn chủ yếu được lựa chọn thông qua đấu thầu rộng rãi, trong khi yêu cầu hoàn thành cơ sở dữ liệu trong thời gian ngắn khiến quy trình từ phê duyệt, bố trí vốn đến lựa chọn đơn vị thực hiện trở thành điểm nghẽn.
Để tháo gỡ, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Sau đó, Chính phủ và các bộ liên quan có hướng dẫn để các địa phương tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai.
Hạ tầng công nghệ cũng đặt ra yêu cầu lớn. Cơ sở dữ liệu đất đai phải được lưu trữ, cập nhật tại địa phương, đồng thời đồng bộ lên hệ thống Trung ương và kết nối với các cơ sở dữ liệu khác, trong khi hạ tầng ở cả địa phương và Trung ương vẫn còn hạn chế.
Việc đồng bộ dữ liệu từ hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường sang Bộ Công an cũng cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng. Do đó, quá trình xây dựng dữ liệu và đồng bộ có thể được thực hiện song song theo tiến độ, thay vì chờ toàn bộ hệ thống hoàn thiện mới đưa dữ liệu lên.
Với khoảng 70% số thửa đất đã có dữ liệu đạt yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”, mục tiêu tối thiểu 80% trong năm 2026 đang ở khoảng cách gần. Tuy nhiên, phần dữ liệu chưa được xây dựng đầy đủ vẫn đòi hỏi khối lượng lớn về đo đạc, chỉnh lý và cập nhật.
Cùng với việc tăng số lượng thửa đất được số hóa, yêu cầu đặt ra là bảo đảm dữ liệu chính xác, được cập nhật thường xuyên và có khả năng kết nối giữa các hệ thống, qua đó phục vụ trực tiếp công tác quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.