Giữ gìn thương hiệu nón lá Huế

Nón lá Huế là một trong những sản phẩm đặc sắc của các làng nghề truyền thống, thể hiện được nét đẹp của cả một vùng văn hóa Huế. Ðể bảo tồn và phát triển, tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang đưa ra, nhiều giải pháp mang tính sáng tạo để vừa phát triển thương hiệu cho làng nghề nhưng vẫn bảo tồn được nghề làm nón thủ công, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống trong thời kỳ hội nhập.
Tiết mục biểu diễn nghệ thuật sử dụng nón lá Huế làm đạo cụ.
Tiết mục biểu diễn nghệ thuật sử dụng nón lá Huế làm đạo cụ.

Nón lá cùng với chiếc áo dài là vật dụng gắn bó mật thiết với người phụ nữ và được coi là y phục dân tộc của người phụ nữ Việt Nam. Nón lá có ở ba miền nhưng với Huế, đã được mặc định không chỉ là sản phẩm thương mại mà còn là văn hóa, hồn cốt của Huế khi kết hợp cùng áo dài đã tạo nên sự nền nã, dịu dàng, thanh mảnh, duyên dáng của phụ nữ Huế.

Phát triển nón lá gắn với cộng đồng

Nón lá Huế - sản phẩm truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa, phản ánh sinh động dòng chảy lịch sử lâu đời của vùng đất cố đô. Nón lá từ lâu đã ghi dấu ấn đậm sâu trong thơ ca, văn học nghệ thuật và cả trong nếp sinh hoạt hằng ngày của người dân, trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp, sự dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng của người con gái Huế với nét đặc trưng riêng so với nón của một số địa phương khác. Nghề làm nón lá hình thành và phát triển ở Huế từ hàng trăm năm nay với rất nhiều làng nón nổi tiếng như: Dạ Lê, Phú Cam, Ðốc Sơ,...

Ngày nay, các làng nghề nổi tiếng như Tây Hồ, xã Phú Hồ; Mỹ Lam, xã Phú Mỹ (huyện Phú Vang); Phú Cam, Phước Vĩnh, Ðốc Sơ, Triều Tây, Hương Sơ (thành phố Huế)... cho ra thị trường hàng triệu chiếc nón, không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân, mà còn là món quà lưu niệm đặc sắc cho du khách.

Hiện nay, ngoài nón 3 lớp, nón bài thơ, nón lá kè, các nghệ nhân Huế đã cho ra đời thêm nón lá bàng, nón lá sen, nón trúc chỉ, tinh tế và đẹp mắt... Từ những chiếc lá bàng rừng tưởng chừng bỏ đi, với bàn tay tài hoa, vợ chồng ông Võ Ngọc Hùng, ở phường Kim Long (thành phố Huế), đã tạo ra những chiếc nón xương lá bàng mới lạ, độc đáo. Ở làng Ðốc Sơ, thuộc phường An Hòa (thành phố Huế), nón lá sen là ý tưởng của một chàng trai xứ Huế - Nguyễn Thanh Thảo. Sản phẩm nón lá sen đã đoạt giải A cuộc thi “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2017.

Nghề làm nón lá ở Huế và những người làm nghề nón đang đứng trước những thách thức, do thu nhập thấp và không ổn định. Giá trị ngày công lao động thấp, trung bình từ 30.000-50.000 đồng. Rất nhiều người đã từ bỏ nghề làm nón. Khảo sát ở làng Mỹ Lam (huyện Phú Vang) cho thấy, trước đây có hơn 300 hộ làm nghề chằm nón, nhưng nay chưa đến 20 chị phụ nữ tham gia và phần lớn là người già, neo đơn, tàn tật. Ở làng nón xã Phú Hồ (Phú Vang) cũng tương tự, giờ chỉ còn khoảng dưới 15 hộ chằm nón...

Một trong những nguyên nhân là thị trường tiêu thụ nón bài thơ ngay tại Thừa Thiên Huế vẫn chưa ổn định, nhiều sản phẩm cũng khó tiêu thụ. Ngay ở chợ Ðông Ba, ngôi chợ trung tâm thành phố, đầu mối lớn về buôn bán nón Huế, tỷ lệ nón Huế chỉ chiếm 10-40%, còn phần lớn nón lá nhập từ Quảng Bình và Bình Ðịnh.

Với những giá trị truyền thống, văn hóa, nón lá Huế là sản phẩm thủ công mỹ nghệ đầu tiên được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý vào tháng 8/2010. Hội nón lá Huế được giao quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Huế cho sản phẩm nón lá Huế với vùng chỉ dẫn địa lý nón lá Huế (vùng nguyên liệu lá nón, vành nón, sơ chế nguyên liệu lá nón, vùng sản xuất khung chằm,...).

Bảo tồn và phát huy nghề truyền thống

Ðể gìn giữ, tôn vinh, phát huy giá trị truyền thống nón lá Huế phù hợp cuộc sống hiện đại, với sự tài trợ của Viện Friedrich Naunamn Foundation For Freedom - Cộng hòa Liên bang Ðức tại Việt Nam (FNF Việt Nam) Hội Nón lá Huế vừa tổ chức hội thảo về “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững nón lá Huế”. Nhiều ý kiến cho rằng, cần quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống làm nón lá, khai thác không gian, cảnh quan văn hóa, hình thành các điểm tham quan, du lịch. Hình thành trung tâm trưng bày, thao diễn nghề làm nón lá gắn với trung tâm trưng bày, trình diễn và may đo áo dài Huế, tạo thành chuỗi sản phẩm văn hóa, du lịch đặc sắc phục vụ khách du lịch. Ngoài ra, cần có các giải pháp hỗ trợ nguồn vốn, khuyến khích tiểu thủ công, xúc tiến thương mại, quảng bá, truyền thông từ nhiều góc độ, quan tâm đào tạo nghề, quan tâm tiếp thị và tìm kiếm đầu ra.

Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Văn Phúc chia sẻ, Thừa Thiên Huế đặt ra trong quy hoạch, kế hoạch, chương trình khôi phục, phát triển nghề và làng nghề truyền thống ở Huế là phải gắn bó chặt chẽ với phát triển du lịch. Phát triển du lịch làng nghề sẽ tạo ra quá trình sản xuất tại chỗ thông qua việc cung ứng các sản phẩm hàng hóa của các làng nghề cũng như các dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch, tạo thêm việc làm cho bộ phận dân cư làng, xã, phường, hội. Ðối với làng nghề nón lá truyền thống, từ năm 2012 đến nay, UBND tỉnh đã công nhận 3 nghề và làng nghề nón lá truyền thống: nghề nón lá Vân Thê, làng nghề nón lá Mỹ Lam và Thanh Tân.

Tại tỉnh Thừa Thiên Huế đã hình thành Hội Nón lá Huế và điều cần làm vào lúc này là hội cần làm đầu mối giúp các hội viên liên kết, phối hợp với các khách sạn, đơn vị lữ hành và điểm du lịch để giới thiệu và bán sản phẩm nón lá làm quà lưu niệm; nghiên cứu kinh nghiệm kinh doanh để tư vấn các hội viên hợp tác với các đơn vị du lịch. “Cần liên kết (ký thỏa thuận hợp tác) với Ban quản lý các chợ trên địa bàn thành phố Huế, nhất là chợ Ðông Ba, để vận động các tiểu thương kinh doanh hàng nón ưu tiên mua/nhận hàng từ các hội viên của Hội Nón lá. Ðồng thời, cam kết bảo đảm chất lượng tốt, giá cả ổn định đối với các sản phẩm nón của Hội”, Phó Chủ tịch Hội Nón lá Huế Phạm Thị Lan cho biết.

“Thời gian tới, cần ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện số hóa dữ liệu về lịch sử hình thành, phát triển của nón lá Huế. Hình thành trung tâm trưng bày, thao diễn nghề làm nón lá gắn với Trung tâm trưng bày, trình diễn và may đo Áo dài Huế, tạo thành chuỗi sản phẩm văn hóa, du lịch đặc sắc phục vụ khách du lịch”, ông Nguyễn Văn Phúc cho biết.

Có thể bạn quan tâm

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt thực hiện in liễn làng Chuồn trong không gian Ngự Hà Viên, Huế. (Ảnh: MẠNH HÀO)

Những di sản sống của làng nghề

Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó.

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.