Giáo dục - chìa khóa thúc đẩy cơ hội cho trẻ em gái vùng cao

Cùng với những chính sách thúc đẩy bình đẳng giới và sự đồng hành của các tổ chức xã hội, ngày càng nhiều trẻ em gái vùng cao được tiếp tục đến trường. Qua đó, các em từng bước làm chủ cuộc đời mình, góp phần nâng cao nhận thức của gia đình, bản làng của mình.

Nhà văn Isabelle Müller trong một chuyến tới thăm khu nội trú của học sinh nữ vùng cao. (Ảnh Quỹ Loan Stiftung cung cấp)
Nhà văn Isabelle Müller trong một chuyến tới thăm khu nội trú của học sinh nữ vùng cao. (Ảnh Quỹ Loan Stiftung cung cấp)

Ở nhiều bản làng vùng cao Việt Nam, nơi điều kiện sống còn nhiều khó khăn và những định kiến truyền thống về vai trò của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và cộng đồng vẫn hiện hữu, cơ hội học tập của trẻ em gái từng bị thu hẹp bởi nghèo đói và tập quán xã hội. Không ít em đứng trước những lựa chọn tưởng như đã được “định sẵn”: nghỉ học sớm, lao động nặng nhọc hoặc lập gia đình khi còn rất trẻ.

nha-van-isabelle-muller.jpg

Những năm gần đây, cùng với các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới, sự đồng hành của các tổ chức xã hội đã góp phần mở ra những cơ hội mới cho trẻ em gái vùng cao. Trong đó, các chương trình hỗ trợ giáo dục của Quỹ Loan Stiftung - do nhà văn Isabelle Müller sáng lập tại Cộng hòa Liên bang Đức - đã tạo ra những thay đổi tích cực từng bước trong việc mở rộng cơ hội học tập cho trẻ em gái vùng cao.

Gần 10 năm qua, Quỹ Loan Stiftung đã đồng hành cùng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại nhiều tỉnh miền núi phía bắc, thông qua học bổng, hỗ trợ cải thiện điều kiện học tập, giúp các em , đặc biệt là các em gái, tiếp tục đến trường, nuôi dưỡng khát vọng và chủ động kiến tạo tương lai.

Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm nguy cơ bỏ học và tảo hôn, mà còn từng bước tác động đến nhận thức của gia đình và cộng đồng về quyền học tập của trẻ em gái.

Hiện nay, tôi không còn thấy sự khác biệt nào giữa bé gái và bé trai về động lực và năng lực học tập.

Nhà văn Isabelle Müller

Trong dòng chảy thay đổi ấy, Sùng Thị Mỷ và Trương Thị Mến là hai gương mặt tiêu biểu trong số nhiều nữ sinh dân tộc thiểu số vùng cao đã và đang thay đổi cuộc đời nhờ cơ hội học tập được mở ra.

Ở nhiều bản làng vùng cao, nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn và những định kiến giới vẫn hiện hữu, con đường học tập của các em gái vùng cao từng bị thu hẹp bởi những lựa chọn tưởng như đã được “định sẵn”: nghỉ học sớm, lao động nặng nhọc, lập gia đình sớm.

Tuy nhiên, những năm gần đây, cùng với các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới và sự đồng hành của các tổ chức xã hội, ngày càng có nhiều em gái vùng cao được tiếp tục đến trường, mở ra cơ hội thay đổi cuộc đời. Sùng Thị Mỷ và Trương Thị Mến là hai gương mặt tiêu biểu trong số nhiều nữ sinh dân tộc thiểu số vùng cao đang từng bước thay đổi tương lai nhờ được tiếp cận giáo dục.

Từ bản làng nghèo đến giảng đường đại học: Một quyết định mang tính bước ngoặt

Sinh ra tại thôn Cán Hồ, xã Lùng Tám, tỉnh Tuyên Quang, Sùng Thị Mỷ từng đứng trước nguy cơ phải bỏ học sớm như nhiều bạn bè cùng trang lứa. Trong bối cảnh vùng cao, con đường của nhiều em gái dường như đã được “định sẵn”: sớm rời ghế nhà trường để phụ giúp gia đình làm nông nghiệp, trông các em, rồi bước vào cuộc sống hôn nhân khi còn rất trẻ.

Lớn lên trong gia đình đông con, bố mẹ đã cao tuổi, điều kiện kinh tế bấp bênh, em Sùng Thị Mỷ cũng từng đứng trước lựa chọn tưởng như đã an bài. Với gia đình em, việc cho con gái tiếp tục học lên đại học là một gánh nặng tài chính vượt quá khả năng của bố mẹ em.

“Đỗ đại học rồi nhưng gia đình không cho đi học thì sao?”, “Lên Hà Nội học có đủ tiền sống không?”, những băn khoăn ấy từng khiến em chùn bước. Việc nộp hồ sơ xét tuyển đại học khi ấy chỉ là một quyết định đầy do dự, nhưng lại trở thành bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời.

Chính trong thời khắc ấy, học bổng của Quỹ Loan Stiftung, do nhà văn Isabelle Müller sáng lập, đã mở ra một cánh cửa khác. Điều kiện để được nhận học bổng không hề dễ: phải đỗ đại học, phải chứng minh nỗ lực học hành và hoàn cảnh thực sự khó khăn. Khi tên em xuất hiện trong danh sách, đó không chỉ là niềm vui, mà còn là lần đầu tiên em cảm nhận được rằng sự cố gắng của mình đã được nhìn thấy.

Không chỉ thiếu thốn về vật chất, hành trình đi học của em Sùng Thị Mỷ còn chịu ảnh hưởng bởi những định kiến âm thầm nhưng dai dẳng. Ở quê em, nhiều người cho rằng con gái học cao rồi cũng chỉ về làm nương rẫy, chăm lo gia đình, nên việc đầu tư cho học hành thường thì không được coi là ưu tiên. Dù học giỏi, không ít bạn bè cùng trang lứa của em vẫn phải nghỉ học sớm hoặc lập gia đình khi còn rất trẻ, không hẳn vì thiếu ước mơ, mà bởi hoàn cảnh và những quan niệm lâu đời khiến giấc mơ trở nên mong manh.

Theo bà Isabelle Müller, nhiều rào cản đối với trẻ em gái không xuất hiện dưới dạng những lời cấm đoán rõ ràng, mà tồn tại trong những quyết định đời thường: khi gia đình phải chọn một người để đi học, con trai thường được ưu tiên; con gái được mong chờ sẽ sớm lập gia đình; hay việc đầu tư cho học hành của con gái bị coi là không mang lại nhiều giá trị lâu dài.

nha-van-muller.jpg
Sùng Thị Mỷ, nữ sinh dân tộc thiểu số vùng cao, chụp ảnh cùng nhà văn Isabelle Müller – người sáng lập Quỹ Loan Stiftung, tổ chức đồng hành hỗ trợ giáo dục cho trẻ em gái có hoàn cảnh khó khăn.

Với em Sùng Thị Mỷ, học bổng của Quỹ Loan Stiftung không chỉ giúp em vượt qua khó khăn trước mắt, mà còn tiếp thêm sự tự tin để bước ra khỏi những khuôn mẫu quen thuộc. Bước vào giảng đường đại học, em hiểu rằng mình không chỉ học cho riêng mình, mà còn mang theo niềm hy vọng của gia đình và những em nhỏ nơi bản làng.

Sau khi tốt nghiệp đại học và làm việc tại Hà Nội, em Sùng Thị Mỷ không còn đứng trước lựa chọn quen thuộc là làm nương rẫy hay lập gia đình sớm, mà từng bước khẳng định giá trị của tri thức đối với cuộc đời mình. Sự thay đổi ấy cũng tác động trở lại chính gia đình em, khi bố mẹ em dần nhận ra rằng: “Con gái vẫn phải đi học, không phải chỉ con trai mới được đi học”.

Hành trình vượt khó của Trương Thị Mến ở Hà Giang

Nếu hành trình của em Sùng Thị Mỷ khởi đầu từ sự do dự âm thầm trước những quan niệm quen thuộc về việc con gái học cao, thì em Trương Thị Mến cũng in đậm những rào cản tương tự. Em Trương Thị Mến sinh ra ở huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, trong một gia đình dân tộc Dao nghèo, quanh năm chỉ trông vào vài sào ruộng cằn. Từ nhỏ, em đã cùng mẹ vào rừng hái rau, măng, kiếm củi để kiếm tiền đóng học. Trường làng cách nhà gần 5km, mùa đông rét buốt, chân tay tê cóng, em vẫn đi bộ đến lớp đều đặn.

Ở quê, nhiều người từng nói với bố mẹ em Trương Thị Mến: “Cho nó nghỉ học đi, con gái học cao cũng chỉ về lấy chồng thôi”. Mỗi lần nghe vậy, em chạnh lòng, nhưng bố mẹ vẫn âm thầm ủng hộ, với câu nói giản dị: “Con muốn học, bố mẹ sẽ cố lo. Còn chuyện đời, cứ để bố mẹ gánh”. Những lời động viên ấy trở thành nguồn sức mạnh để em Trương Thị Mến yên tâm kiên trì theo đuổi con đường học tập của em.

Sau tốt nghiệp trung học cơ sở, em Trương Thị Mến thi đỗ Trường phổ thông dân tộc nội trú - trung học phổ thông tỉnh Hà Giang, cách nhà hơn 100km. Ba năm nội trú là những tháng ngày đầy thử thách, nhiều nước mắt nhưng cũng rèn giũa ý chí.

Cơ duyên đưa em Trương Thị Mến đến Quỹ học bổng Loan Stiftung, từ những lời chia sẻ của cô giáo chủ nhiệm và hình ảnh các chị học sinh cũ của trường, đã thắp lên ngọn lửa hy vọng trong em. Khi được thông báo nhận học bổng Loan Stiftung, Mến bật khóc, không chỉ vì hạnh phúc mà còn vì cảm giác nỗ lực của mình đã được trân trọng.

Học bổng Quỹ Loan Stiftung không chỉ giúp em Trương Thị Mến tiếp tục học tại Trường đại học Y Dược Thái Nguyên mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn. Em học được cách sống có trách nhiệm, biết trân trọng những điều giản dị và biết ơn những người đã đồng hành cùng mình.

Những bước chân rời bản làng của Trương Thị Mến, giống như Sùng Thị Mỷ, là hành trình đi để học tiếp cao hơn, trưởng thành, và sẽ có một ngày các em có thể mang tri thức trở về góp phần phát triển cho bản làng quê hương em.

Việc học ngày nay giúp các nữ sinh vùng cao có thể chủ động hoạch định tương lai và làm chủ cuộc đời mình.

Nhà văn Isabelle

Bình đẳng giới và học hành trẻ em gái ở Việt Nam: Góc nhìn từ bà Isabelle Müller

Việt Nam đã chứng kiến những thay đổi tích cực trong việc nâng cao cơ hội học hành và bình đẳng giới cho trẻ em gái, đặc biệt tại các vùng núi và vùng khó khăn.

Theo bà Isabelle, nhiều gia đình và cộng đồng vẫn duy trì những quan niệm truyền thống về vai trò giới, khiến các bé gái cảm thấy vị trí của mình chủ yếu ở nhà, tham gia lao động nông nghiệp hoặc chăm sóc gia đình, thay vì theo đuổi học tập.

Tại Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, tôi quan sát thấy những bước tiến rất rõ rệt về bình đẳng giới, đặc biệt trong tiếp cận giáo dục.

Nhà văn Isabelle Müller

Khi phải lựa chọn con trai hay con gái đi học, con trai thường được ưu tiên, trong khi con gái phải ở nhà chăm em nhỏ hoặc làm việc đồng áng. Dù ít khi được coi là phân biệt đối xử rõ ràng, những quan niệm này ảnh hưởng sâu sắc đến quyết định hàng ngày. Nhiều bé gái đạt kết quả học tập tốt vẫn phải nghỉ học hoặc kết hôn sớm, vì học hành không phải lúc nào cũng được coi là ưu tiên đối với các em.

Tuy nhiên, những năm gần đây, xu hướng tích cực đã xuất hiện: nhiều gia đình ưu tiên con có kết quả học tập tốt nhất, bất kể là con trai hay con gái, mở ra cơ hội cho trẻ em gái được tiếp tục đi học.

Quỹ Loan Stiftung đã hỗ trợ nhiều trẻ em gái bằng học bổng, giúp các em tiếp tục được đi học cao hơn và thay đổi tương lai. Hai trường hợp điển hình là Sùng Thị Mỷ và Trương Thị Mến. Các học bổng không chỉ là hỗ trợ tài chính mà còn mang lại động lực, sự ổn định và cơ hội thay đổi đời sống.

Bà Isabelle Müller cho rằng, việc nâng cao kỹ năng, tăng thu nhập và cải thiện tiếp cận thông tin giúp phụ nữ trở nên tự chủ và có tiếng nói trong gia đình, cộng đồng. Khi phụ nữ kiếm được thu nhập nhờ được đi học, được đào tạo hoặc dự án sinh kế, họ có khả năng quyết định các vấn đề liên quan đến học hành, y tế, dinh dưỡng cho con cái.

Ở các vùng núi, trẻ em gái gặp nhiều khó khăn rào cản khi đường từ nhà các em đến trường rất xa và nguy hiểm, gia đình khó khăn về tài chính, các em vừa phải đảm nhận công việc nhà và làm các công việc trên nương rẫy cùng gia đình, chất lượng học hành của các em không đồng đều, cùng với những quan niệm cổ hủ của người dân vùng cao về giới. Để giải quyết vấn đề này, cần kết hợp nhiều giải pháp như là xây dựng trường học gần nhà hoặc khu nội trú an toàn, hỗ trợ học bổng và các chi phí phát sinh thêm cho sinh hoạt học tập, dạy song ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số, cải thiện cơ sở vật chất, tổ chức chiến dịch nâng cao nhận thức và áp dụng các biện pháp pháp luật chống tảo hôn.

Bà Isabelle Müller cũng nhấn mạnh vai trò những tấm gương thành công để chứng minh rằng không có rào cản nào ngăn cản phụ nữ sống tự chủ và phát triển. Được đi học và có học bổng giúp phụ nữ thay đổi nhận thức về vai trò của mình, từ đó lan tỏa lợi ích ra cộng đồng. Công nghệ và thông tin cũng góp phần mở ra cơ hội, giúp trẻ em gái tự tin hơn trong việc lập kế hoạch tương lai.

Từ hai câu chuyện của các em Sùng Thị Mỷ và Trương Thị Mến có thể thấy, trao cơ hội học hành cho trẻ em gái không chỉ giúp một cá nhân vượt qua nghèo khó, mà còn là cách bền vững để làm lung lay những định kiến giới đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Khi những trẻ em gái được học tập, trưởng thành và trở về quê hương, sự thay đổi không chỉ diễn ra ở bản thân mỗi em, mà lan tỏa tới gia đình và từng cộng đồng, tạo nền tảng cho bình đẳng giới bền vững tại Việt Nam.

Bình đẳng giới, vì thế, không chỉ nằm ở chính sách, mà được kiến tạo từ những cơ hội học tập cụ thể, từ các chương trình hỗ trợ học bổng và từ sự chuyển biến trong nhận thức của từng gia đình trong cộng đồng.

Có thể bạn quan tâm

[Infographic] Những con số về Đánh giá tư duy TSA năm 2026

[Infographic] Những con số về Đánh giá tư duy TSA năm 2026

Trong năm 2026, Đại học Bách khoa Hà Nội đã tổ chức 3 đợt Đánh giá tư duy với 31 điểm thi tại Hà Nội và 10 tỉnh, thành phố; đáp ứng gần 60 nghìn lượt thi với tổng số gần 30 nghìn thí sinh dự thi. Kết quả Đánh giá tư duy TSA đã được hơn 50 cơ sở đào tạo sử dụng để tuyển sinh đại học năm học 2026-2027.

(Ảnh minh họa: HNUE)

Giáo dục đại học: Cần kiểm soát đầu vào và nâng cao chất lượng đầu ra

Trong thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, về công tác tuyển sinh, bảo đảm chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở đào tạo có phương án xét tuyển theo hướng ổn định, minh bạch, công bằng, thực chất; kiểm soát đầu vào và nâng cao chất lượng đầu ra.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: Ban tổ chức)

Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong cơ khí-động lực

Ngày 18/10, tại Trường đại học Thủy lợi, Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí-Động lực lần thứ XIX năm 2026 chính thức khai mạc, quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên đến từ 22 trường đại học, viện nghiên cứu, học viện cùng đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí-động lực trên cả nước.

Học viên trong giờ thực hành tại trường cao đẳng nghề. Ảnh minh họa: PHONG NGỌC

Kế hoạch sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Đối với các cơ sở giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chủ trì xây dựng đề án trình Thủ tướng, ra các quyết định sắp xếp, tổ chức lại trước ngày 1/4/2027; với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Bộ chủ trì ra các quyết định sắp xếp, tổ chức lại trong quý IV năm 2026.

Giảng viên Khoa Công nghệ điện tử Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI. (Ảnh: THANH VŨ)

Giáo dục đại học với nhiệm vụ phát triển đội ngũ giảng viên, thu hút nhân tài trong năm học 2026-2027

Một trong những nhiệm vụ cụ thể đề ra trong năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm là tăng cường đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, thu hút nhân tài, đặc biệt cho các ngành STEM và những ngành trọng điểm khác; chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực cốt lõi cho giảng viên. 

(Ảnh minh họa: THÀNH ĐẠT)

Ban hành Chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực sản xuất và chế biến

Chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực sản xuất và chế biến trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ quy định những yêu cầu chung tối thiểu áp dụng đối với các chương trình đào tạo để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng, tư duy đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động.

Trẻ em trực tiếp trải nghiệm điều khiển robot lập trình thông minh tại gian hàng Neopia, kích thích tư duy sáng tạo và niềm yêu thích khoa học công nghệ. (Ảnh: Bảo Ngân)

Nâng cấp hạ tầng công nghệ và đổi mới phương pháp: Lời giải cho bài toán chuyển đổi số giáo dục

Không chỉ là nơi giao thương thiết bị học đường, Triển lãm quốc tế giáo dục Việt Nam 2026 (VietEdu Fair 2026) còn gợi mở nhiều hướng đi cho đổi mới giáo dục: chuẩn hóa học liệu STEM trong chương trình chính khóa, tích hợp liên môn và xây dựng hệ sinh thái học tập cho thế hệ trẻ trong kỷ nguyên số.

Các đại biểu, giảng viên và sinh viên chụp ảnh lưu niệm tại chương trình. (Ảnh: TQ)

Đổi mới hoạt động lớp học, nâng cao năng lực giao tiếp tiếng Anh

Chương trình chuyên đề “Phát triển sự tự tin khi nói tiếng Anh: Các hoạt động thực tiễn trong lớp học dành cho giáo viên tiếng Anh” nhằm tạo cơ hội trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy và tiếp cận các phương pháp dạy học tiếng Anh hiện đại, hướng tới nâng cao năng lực giao tiếp cho người học.

Trẻ em trực tiếp trải nghiệm điều khiển robot lập trình thông minh tại gian hàng Neopia, kích thích tư duy sáng tạo và niềm yêu thích khoa học công nghệ.

[Ảnh] Đổi mới phương pháp học tập qua công nghệ và đồ chơi giáo dục tại VietEdu Fair 2026

Ngày 15/10, Triển lãm quốc tế giáo dục Việt Nam 2026 (VietEdu Fair 2026) chính thức mở cửa tại Trung tâm triển lãm Việt Nam (Hà Nội). Sự kiện giới thiệu các giải pháp công nghệ giáo dục, thiết bị học tập STEM và dòng đồ chơi phát triển trí tuệ, phản ánh xu hướng "học qua chơi" đang ngày càng chiếm ưu thế trong giáo dục hiện đại.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo và đại diện GELEXIMCO bấm nút khánh thành không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành. (Ảnh: TOÀN PHƯƠNG)

Khánh thành không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành tại Đại học Bách khoa Hà Nội

Ngày 15/10, Tập đoàn GELEXIMCO và Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức khánh thành không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành, đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ hợp tác chiến lược giữa hai đơn vị, đồng thời thúc đẩy mô hình phối hợp “3 nhà”: Nhà nước-Nhà trường-Doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.

Hội nghị công bố quyết định và kế hoạch giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

[Infographic] Đoàn Giám sát của Ban Bí thư thực hiện giám sát chuyên đề về công tác giáo dục phổ thông

Hoạt động giám sát thực hiện theo chương trình tổng thể của Ban Bí thư, nhằm đánh giá khách quan kết quả thực hiện, làm rõ những nội dung còn hạn chế, tồn tại, những vấn đề nhân dân và hệ thống chính trị quan tâm, đề xuất giải pháp tiếp tục đổi mới giáo dục phổ thông trong thời gian tới.