Giảm phát thải trong chăn nuôi

Ngành chăn nuôi góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm, tạo sinh kế cho hàng triệu hộ dân, nhưng lại là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể của ngành nông nghiệp.

Nuôi lợn theo hướng an toàn sinh học tại huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. (Ảnh: BÁO NHÂN DÂN)
Nuôi lợn theo hướng an toàn sinh học tại huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. (Ảnh: BÁO NHÂN DÂN)

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết giảm 30% lượng khí mê-tan (CH4) vào năm 2030, việc “giảm phát thải từ chuồng trại” đang trở thành một hướng đi bắt buộc, chứ không chỉ là lựa chọn khuyến khích.

Số liệu kiểm kê khí nhà kính cho thấy, phát thải từ chăn nuôi gia súc nước ta tăng nhanh cùng với quy mô đàn vật nuôi. Năm 2010, phát thải CH4 từ chăn nuôi ở mức khoảng 16,5 triệu tấn CO2tđ (đơn vị đo tổng lượng khí nhà kính phát thải), thì đến năm 2020 đã vượt 20 triệu tấn CO2tđ. Điều này cho thấy tỷ trọng đóng góp của chăn nuôi ngày càng lớn trong phát thải CH4 của nền kinh tế.

Cấu trúc phát thải trong chăn nuôi cũng khá rõ nét, khoảng 74% đến từ quá trình lên men đường tiêu hóa (enteric fermentation) trong dạ cỏ của gia súc nhai lại, phần còn lại chủ yếu từ quản lý phân và chất thải chăn nuôi. Trong nhóm gia súc nhai lại, bò chiếm tỷ trọng lớn nhất trong phát thải CH4 từ dạ cỏ; còn đối với phát thải từ quản lý phân, lợn là loài chiếm tỷ lệ cao, bên cạnh bò, trâu và gia cầm.

Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu đến năm 2030 đàn lợn đạt từ 29-30 triệu con, trâu từ 2,4-2,6 triệu con, bò từ 7,15-7,3 triệu con, gia cầm từ 600-670 triệu con, đây là cơ sở để nâng cao sản lượng thịt, sữa, trứng, tuy nhiên đồng thời với đó là lượng phát thải khí nhà kính, nhất là CH4, sẽ tiếp tục gia tăng nếu không có các giải pháp kỹ thuật phù hợp. Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 đặt mục tiêu giảm 43% phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp vào năm 2030, không vượt quá 64 triệu tấn CO2tđ; đến năm 2050, mức giảm là hơn 63%, không vượt quá 56 triệu tấn CO2tđ. Riêng với khí mê-tan, Việt Nam cam kết giảm 30% đến năm 2030 và 40% vào năm 2050.

Để hiện thực hóa mục tiêu, năm 2024, trong lĩnh vực chăn nuôi, ngành chức năng đã ban hành Thông tư số 19/2024/TT-BNNPTNT ngày 3/12/2024 về quy định kỹ thuật đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải và kiểm kê khí nhà kính ở cấp lĩnh vực và cấp cơ sở chăn nuôi, có hiệu lực từ tháng 1/2025. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi phải “đo - đếm” phát thải, thay vì chỉ ghi nhận một cách định tính.

Theo Tiến sĩ Lê Thị Thanh Huyền, Viện Chăn nuôi, các giải pháp giảm phát thải CH4 trong chăn nuôi hiện tập trung vào hai “điểm nóng” là quá trình tiêu hóa trong dạ cỏ và khâu quản lý, xử lý chất thải. Do vậy, việc đầu tiên là cải thiện khẩu phần để giảm phát thải từ dạ cỏ. Quá trình lên men ở dạ cỏ bò, trâu tạo ra các axit béo dễ bay hơi (acetat, propionat, butyrat) đồng thời sinh ra khí H2, CO2 và CH4.

Các giải pháp cụ thể gồm: Sử dụng thức ăn ủ chua (ủ rơm, cỏ với ure hoặc phụ gia sinh học) để nâng cao khả năng tiêu hóa, tăng lượng vật chất khô thu nhận, cải thiện tăng trọng và giảm cường độ phát thải CH4 tính trên mỗi ki-lô-gam tăng trọng; ứng dụng phần mềm PC Dairy trong xây dựng khẩu phần cho bò sữa, bò thịt, ưu tiên kết hợp cây họ đậu, phụ phẩm công nghiệp để vừa bảo đảm dinh dưỡng, vừa giảm phát thải; sử dụng các phụ gia thức ăn ức chế sinh mê-tan như 3NOP, than hoạt tính, zeolit, thức ăn giàu tannin… nhằm kìm hãm hoạt động của vi khuẩn sinh mê-tan trong dạ cỏ.

Thêm nữa là cần quản lý chất thải theo hướng tuần hoàn. Theo ước tính, mỗi năm chăn nuôi Việt Nam phát sinh hơn 62 triệu tấn chất thải rắn và hơn 300 triệu tấn chất thải lỏng; trong đó, phân lợn, trâu bò chiếm tỷ trọng lớn. Nếu được xử lý bằng công nghệ phù hợp, đây sẽ là nguồn phân bón hữu cơ, nguồn năng lượng đáng kể, thay vì trở thành tác nhân gây ô nhiễm đất, nước và phát thải mê-tan.

Các giải pháp được đưa ra đó là xây dựng, nâng cấp hệ thống hầm biogas để thu hồi CH4 từ phân, sử dụng làm nhiên liệu đun nấu, phát điện, hoặc cung cấp nhiệt cho chuồng trại. Áp dụng công nghệ tách chất thải rắn - lỏng tại các trại lợn, trại bò; phần rắn được ủ compost, phần lỏng có thể xử lý tiếp hoặc dùng tưới cây theo quy trình kỹ thuật. Ủ phân compost có bổ sung rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp, thậm chí kết hợp với biochar (than sinh học) để tăng tốc phân hủy, nâng cao hàm lượng dinh dưỡng, đồng thời giảm mạnh phát thải CH4 trong quá trình ủ.

Một kết quả nghiên cứu cho thấy, ủ phân bò với rơm giúp giảm hơn 96% vi khuẩn E.coli (trực khuẩn lỵ) và Coliform (là thủ phạm gây ra những căn bệnh về đường tiêu hóa nguy hiểm) so với trước khi ủ, trong khi ủ phân bò đơn thuần chỉ giảm được khoảng 70% số vi khuẩn gây bệnh.

Một giải pháp khác là sử dụng đệm lót sinh học trong chuồng bò. Lớp đệm lót (mùn cưa, trấu, chất độn có bổ sung vi sinh) giúp phân, nước tiểu được phân hủy ngay tại nền chuồng, giảm phát sinh mùi, giảm nhu cầu dùng nước rửa chuồng, đồng thời cải thiện phúc lợi động vật. Thực nghiệm cho thấy bò nuôi trên đệm lót sinh học có tỷ lệ tăng trọng bình quân cao hơn, giảm bệnh chân móng và sau chu kỳ nuôi, lớp đệm lót còn trở thành nguồn phân bón hữu cơ...

Những mô hình thí điểm tại trang trại bò thịt hay các nghiên cứu về ủ rơm, ủ phân compost, đệm lót sinh học… cho thấy, nếu được triển khai đúng kỹ thuật, các giải pháp giảm phát thải CH4 trong chăn nuôi hoàn toàn khả thi, phù hợp với điều kiện sản xuất của Việt Nam, nhất là khi gắn với lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để các giải pháp đó được chuẩn hóa về mặt kỹ thuật thông qua quy trình, hướng dẫn cụ thể. Được lồng ghép vào các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển chăn nuôi, khuyến nông, tín dụng xanh và được tính toán, ghi nhận trong hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định nhằm chứng minh kết quả giảm phát thải, tạo cơ sở để tiếp cận nguồn lực tài chính khí hậu trong tương lai

Có thể bạn quan tâm

Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo trao các giải Nhất tặng các thí sinh đạt giải.

Viện Hóa học khẳng định không liên quan dự án đạt giải Nhất Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật quốc gia

Ngày 30/3, Viện Hóa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chính thức thông tin và khẳng định không liên quan dự án đạt giải Nhất Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh năm học 2025-2026; đồng thời, đề nghị các cơ quan chức năng sớm xác minh, làm rõ vụ việc.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Mạnh Xuân)

Nghiên cứu hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống giáo dục

Chiều 30/3, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức hội thảo trao đổi, thảo luận về cơ sở khoa học của đề tài khoa học cấp Nhà nước: Hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống giáo dục nhằm góp phần tạo động lực phát triển nhanh và bền vững đất nước trong điều kiện mới.

Khung cảnh Đại hội đại biểu Hội Triết học Việt Nam lần thứ hai, nhiệm kỳ 2026-2031.

Hội Triết học Việt Nam bước vào nhiệm kỳ mới với tầm nhìn hội nhập và phát triển

Sáng 28/3, tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội), Đại hội đại biểu Hội Triết học Việt Nam lần thứ hai, nhiệm kỳ 2026-2031 được tổ chức trọng thể, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhiệm vụ nâng cao chất lượng nghiên cứu, gắn lý luận với thực tiễn và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

Các ấn phẩm của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trưng bày tại một sự kiện ở Cần Thơ.

Bước chuyển tư duy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số

Chỉ thị số 04-CT/TW năm 2026 được ban hành trong một không gian phát triển hoàn toàn mới. Chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công nghệ đang định hình lại toàn bộ chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiếp nhận tri thức, còn văn hóa, dữ liệu, nội dung số ngày càng trở thành nguồn lực phát triển quan trọng của quốc gia.

Mục tiêu đến năm 2030, nghiên cứu, làm chủ công nghệ thiết kế, tích hợp, chế tạo, thử nghiệm và đưa vào ứng dụng 6 sản phẩm công nghệ chiến lược. (Ảnh minh họa)

Tự chủ công nghệ AUV nghiên cứu biển

Khoa học-công nghệ phát triển giúp nhiều quốc gia biển trên thế giới đẩy mạnh nghiên cứu về tiềm năng tài nguyên biển trong vùng lãnh hải của mình, từ đó có những quyết sách chính xác và hiệu quả. 

Nhân lực bán dẫn: Bài học từ Đức và khoảng trống của Việt Nam

Nhân lực bán dẫn: Bài học từ Đức và khoảng trống của Việt Nam

Trong bối cảnh ngành công nghiệp bán dẫn đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế số toàn cầu, câu chuyện nhân lực không còn là vấn đề riêng của các quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, nơi dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực bán dẫn đang tăng nhanh, bài toán nguồn nhân lực ngày càng trở nên cấp thiết.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh NGUYỄN ĐĂNG)

Mở rộng cơ hội cho nhà khoa học trẻ

Để khoa học công nghệ phát triển đột phá, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của đất nước, không thể không quan tâm việc bồi dưỡng, khuyến khích các nhà khoa học trẻ. Giải quyết những điểm nghẽn, hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp là điều kiện cần thiết để thu hút người tài đến với khoa học.

Viettel xây trạm viễn thông ở Peru.

Viettel Global: Sứ mệnh lan tỏa giá trị Việt Nam và thắt chặt tình hữu nghị

Hiện nay, Viettel Global đã hiện diện tại 11 quốc gia, phục vụ gần 90 triệu khách hàng và xác lập vị thế dẫn đầu thị phần di động tại 7 thị trường quốc tế. Tuy nhiên, quá trình đi ra quốc tế của Viettel Global không chỉ dừng ở việc kinh doanh viễn thông, mà còn đóng vai trò kết nối ngoại giao, đưa hình ảnh Việt Nam ra thế giới.

Giảng viên Khoa công nghệ điện tử Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI. (Ảnh: THANH VŨ)

Ý thức, trách nhiệm khi sử dụng AI

Hiện nay, AI đang tạo ra những biến đổi lớn trong hệ thống giáo dục đại học. Với sự trợ giúp của các nền tảng AI như ChatGPT, Gemini..., sinh viên có thể chủ động tiếp cận kiến thức theo tốc độ và nhu cầu bản thân, không còn bị phụ thuộc vào lịch học cố định hay sự hiện diện vật lý tại giảng đường.