Đột phá thể chế, bởi thể chế chính là “hạ tầng” của tăng trưởng!

“Những thành tựu đạt được, nhất là từ cuộc cải cách ấn tượng trong năm 2025, đã tạo đủ đà và lực để Việt Nam tự tin bước vào giai đoạn tăng tốc tiếp theo, hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trong năm 2026, với nền tảng căn cơ, vững chắc và tầm nhìn dài hạn hơn”.

TS Huỳnh Thanh Điền
TS Huỳnh Thanh Điền

Đó là nhận định của TS Huỳnh Thanh Điền (ảnh nhỏ), giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, trong cuộc trao đổi cùng Nhân Dân Cuối tuần.

Vai trò của Nhà nước trong mô hình tăng trưởng mới

Ông nhìn nhận thế nào về năm 2025, một năm bản lề chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới cả về kinh tế-xã hội cũng như vị thế trên trường quốc tế của Việt Nam?

Thực tế, trong cả giai đoạn 2020-2025, Việt Nam đã thể hiện rõ năng lực chống chịu, thích ứng trước những cú sốc lớn chưa từng có của thế giới. Việc kiểm soát và vượt qua đại dịch Covid-19 không chỉ là một thành công về y tế, xã hội, mà còn là một kỳ tích về năng lực điều hành và sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị. Việt Nam cũng đã chủ động thích ứng biến động toàn cầu, từ xu hướng bảo hộ gia tăng, xung đột địa chính trị đến sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng, qua đó tiếp tục duy trì vị thế là điểm đến đầu tư hấp dẫn trong khu vực.

Những thành quả này cho thấy định hướng đúng đắn của Việt Nam trong hội nhập chủ động, cải cách thể chế và xây dựng môi trường đầu tư ổn định, có khả năng dự đoán. Một điểm nổi bật là đường lối hội nhập linh hoạt, thích ứng bối cảnh bảo hộ đan xen hội nhập. Việt Nam không chỉ mở cửa theo chiều rộng, mà tập trung thúc đẩy các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện song phương với các nền kinh tế lớn, đối tác then chốt. Cách tiếp cận này góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư, tạo nền tảng thu hút dòng vốn dài hạn trong bối cảnh thế giới bất định.

Cũng trong năm 2025, Đảng ta đã ban hành một loạt nghị quyết quan trọng về việc định hướng phát triển nhiều lĩnh vực. Điều đáng nói là các nghị quyết này đều nhanh chóng được thể chế hóa thành luật, chính sách và triển khai bằng các chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể, tạo sự chuyển động đồng bộ từ tư duy đến hành động. Dấu ấn rất rõ nét với hàng loạt cải cách mang tính căn cơ, chuẩn bị cho kỷ nguyên mới của đất nước.

Đầu tư công cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực khi phương thức triển khai được đổi mới, nhiều dự án hạ tầng trọng điểm được khánh thành, khởi công. Những giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh hay đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đã góp phần tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp dám đầu tư, “dám lớn” và lớn lên một cách bền vững. Đáng chú ý, ba đợt khánh thành, khởi công đồng loạt các công trình lớn trong năm 2025 cho thấy nhận thức ngày càng rõ ràng: Đột phá hạ tầng là then chốt để tạo đà tăng trưởng trước mắt và nền tảng phát triển dài hạn của đất nước.

Song song với phát triển kinh tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm sâu sắc, thể hiện qua các chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát và thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, qua đó củng cố nền tảng ổn định xã hội và niềm tin của người dân.

Tại Hội nghị Trung ương 11 của Đại hội khóa XIII, Đảng và Nhà nước đã xác định: Giai đoạn 2026-2030 cần có sự thay đổi trong mô hình tăng trưởng, để hướng đến mục tiêu tăng trưởng đạt mức hai con số. Theo ông, vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ được định vị như thế nào trong mô hình tăng trưởng mới này?

Trong mô hình tăng trưởng mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lĩnh vực hỗ trợ, mà phải được định vị là động lực trung tâm. Vấn đề then chốt không chỉ nằm ở chủ trương, mà phải xác định đúng đâu là động lực phát triển khoa học công nghệ và cơ chế kích hoạt động lực đó như thế nào. Thực tiễn cho thấy: Sáng tạo chỉ thật sự bền vững khi được dẫn dắt bởi hai yếu tố cốt lõi là “quyền sở hữu được bảo đảm rõ ràng” và “lý tưởng phát triển gắn với lợi ích lâu dài của quốc gia, gắn với sự phát triển của đất nước”.

Trong đó, vai trò của Nhà nước được định vị lại theo hướng Nhà nước kiến tạo phát triển, tập trung đầu tư vào hạ tầng công nghệ nền tảng, đồng thời hoàn thiện hạ tầng pháp lý để các ý tưởng sáng tạo được bảo vệ quyền sở hữu, được thương mại hóa và có điều kiện lan tỏa trong toàn nền kinh tế.

Khi Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo, thị trường vận hành minh bạch và khu vực tư nhân được giải phóng năng lực sáng tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ trở thành trụ cột thực thụ của mô hình tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.

z7342802923024-9add98874b0ea1809d0178300f49f2ff.jpg
Máy bay Boeing 787-9 của Vietnam Airlines đã thực hiện chuyến bay chở khách chính thức đầu tiên đến sân bay Long Thành ngày 19/12/2025. (Nguồn ACV)

Hướng đến mục tiêu tổ chức lại lãnh thổ kinh tế

Có ý kiến cho rằng, hiện mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn chậm chuyển đổi, chủ yếu dựa vào vốn và lao động, trong khi các động lực như khoa học công nghệ, kinh tế tri thức chưa có đóng góp đáng kể. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

Nhận định này là xác đáng và phản ánh đúng thực trạng của mô hình tăng trưởng hiện nay. Trong thời gian qua, hoạt động kinh tế của khu vực trong nước chủ yếu sôi động ở các lĩnh vực như bất động sản, tài chính, ngân hàng. Đây chỉ là sự sôi động ở bề nổi, mang tính chu chuyển vốn nhiều hơn là tạo ra giá trị gia tăng thực chất. Trong khi đó, khu vực sản xuất chủ yếu do khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đảm trách. Doanh nghiệp trong nước, vốn được xem là “trái tim của nền sản xuất”, lại có dấu hiệu yếu dần và chưa có được vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị.

Để hóa giải tình trạng này, trọng tâm chính sách cần được đặt vào việc phát triển hạ tầng, hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất trong nước. Khi khu vực này được củng cố và trở nên mạnh hơn, họ sẽ có đủ năng lực để kết nối hiệu quả với khu vực FDI và kinh tế nhà nước, từ đó hình thành một nền tảng sản xuất vững chắc, cân bằng hơn cho toàn nền kinh tế, nâng cao năng lực tự chủ, phát huy tốt hơn các lợi thế từ hội nhập kinh tế quốc tế.

Cách tiếp cận này không chỉ giúp phục hồi, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, mà còn tạo ra nguồn thu bền vững cho ngân sách trong trung và dài hạn.

Đứng trước yêu cầu phát triển mới, Việt Nam phải làm gì để có thể phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa mục tiêu chiến lược đã đề ra, thưa ông?

Thế giới biến động sâu sắc và cạnh tranh phát triển chủ yếu dựa vào năng lực nội sinh. Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải xác lập một mô hình tăng trưởng mới theo hướng đột phá về chất, chứ không chỉ mở rộng về lượng.

Tôi cho rằng có một số việc then chốt cần làm. Trước hết là đột phá thể chế, bởi thể chế chính là “hạ tầng” của tăng trưởng. Khi môi trường thể chế minh bạch, kỷ luật thực thi nghiêm, doanh nghiệp mới dám đầu tư dài hạn, dám đổi mới và dám lớn. Tiếp đến là tái cấu trúc không gian phát triển theo tư duy liên kết vùng và tổ chức lại lãnh thổ kinh tế.

Việc sắp xếp đơn vị hành chính lãnh thổ và kiện toàn mô hình chính quyền địa phương hai cấp là tiền đề quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là phải biến cải cách đó thành năng lực điều phối vùng, hình thành các cực tăng trưởng mới có tính bổ trợ lẫn nhau. Đồng thời, tạo đột phá hạ tầng mở đường cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất; kích hoạt động lực nội sinh, đặt doanh nghiệp trong nước vào trung tâm của chiến lược phát triển. Mặt khác, chúng ta phải thống nhất và nhất quán quan điểm: Coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, gắn trực tiếp với bài toán nâng năng suất và tạo giá trị mới.

Ngay trong những ngày cuối năm 2025, Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã chính thức được đi vào hoạt động. Đây là một cấu phần chiến lược trong quá trình tái định vị vai trò của Việt Nam trong mạng lưới tài chính khu vực và toàn cầu, nâng tầm hội nhập tài chính và vị thế phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Với một mô hình tăng trưởng nhanh, bền vững và bao trùm, Việt Nam có thể hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trong năm 2026 và những năm tiếp theo. Quan trọng là nếu người dân được đặt ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu cuối cùng, vừa là động lực của mô hình tăng trưởng mới, đất nước sẽ có đủ nền tảng để phát triển nhanh, bền vững và tự tin hơn trong một thế giới nhiều biến động.

Trân trọng cảm ơn ông!

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo, Việt Nam buộc phải thực hiện một sự chuyển đổi căn bản trong mô hình tăng trưởng, từ phát triển theo chiều rộng dựa chủ yếu vào mở rộng vốn vay, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang phát triển theo chiều sâu dựa trên nâng cao năng suất, tạo ra giá trị mới và thúc đẩy đổi mới sáng tạo”.

Có thể bạn quan tâm

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.