Đột phá thể chế, bởi thể chế chính là “hạ tầng” của tăng trưởng!

“Những thành tựu đạt được, nhất là từ cuộc cải cách ấn tượng trong năm 2025, đã tạo đủ đà và lực để Việt Nam tự tin bước vào giai đoạn tăng tốc tiếp theo, hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trong năm 2026, với nền tảng căn cơ, vững chắc và tầm nhìn dài hạn hơn”.

TS Huỳnh Thanh Điền
TS Huỳnh Thanh Điền

Đó là nhận định của TS Huỳnh Thanh Điền (ảnh nhỏ), giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, trong cuộc trao đổi cùng Nhân Dân Cuối tuần.

Vai trò của Nhà nước trong mô hình tăng trưởng mới

Ông nhìn nhận thế nào về năm 2025, một năm bản lề chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới cả về kinh tế-xã hội cũng như vị thế trên trường quốc tế của Việt Nam?

Thực tế, trong cả giai đoạn 2020-2025, Việt Nam đã thể hiện rõ năng lực chống chịu, thích ứng trước những cú sốc lớn chưa từng có của thế giới. Việc kiểm soát và vượt qua đại dịch Covid-19 không chỉ là một thành công về y tế, xã hội, mà còn là một kỳ tích về năng lực điều hành và sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị. Việt Nam cũng đã chủ động thích ứng biến động toàn cầu, từ xu hướng bảo hộ gia tăng, xung đột địa chính trị đến sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng, qua đó tiếp tục duy trì vị thế là điểm đến đầu tư hấp dẫn trong khu vực.

Những thành quả này cho thấy định hướng đúng đắn của Việt Nam trong hội nhập chủ động, cải cách thể chế và xây dựng môi trường đầu tư ổn định, có khả năng dự đoán. Một điểm nổi bật là đường lối hội nhập linh hoạt, thích ứng bối cảnh bảo hộ đan xen hội nhập. Việt Nam không chỉ mở cửa theo chiều rộng, mà tập trung thúc đẩy các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện song phương với các nền kinh tế lớn, đối tác then chốt. Cách tiếp cận này góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư, tạo nền tảng thu hút dòng vốn dài hạn trong bối cảnh thế giới bất định.

Cũng trong năm 2025, Đảng ta đã ban hành một loạt nghị quyết quan trọng về việc định hướng phát triển nhiều lĩnh vực. Điều đáng nói là các nghị quyết này đều nhanh chóng được thể chế hóa thành luật, chính sách và triển khai bằng các chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể, tạo sự chuyển động đồng bộ từ tư duy đến hành động. Dấu ấn rất rõ nét với hàng loạt cải cách mang tính căn cơ, chuẩn bị cho kỷ nguyên mới của đất nước.

Đầu tư công cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực khi phương thức triển khai được đổi mới, nhiều dự án hạ tầng trọng điểm được khánh thành, khởi công. Những giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh hay đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công đã góp phần tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp dám đầu tư, “dám lớn” và lớn lên một cách bền vững. Đáng chú ý, ba đợt khánh thành, khởi công đồng loạt các công trình lớn trong năm 2025 cho thấy nhận thức ngày càng rõ ràng: Đột phá hạ tầng là then chốt để tạo đà tăng trưởng trước mắt và nền tảng phát triển dài hạn của đất nước.

Song song với phát triển kinh tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm sâu sắc, thể hiện qua các chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát và thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, qua đó củng cố nền tảng ổn định xã hội và niềm tin của người dân.

Tại Hội nghị Trung ương 11 của Đại hội khóa XIII, Đảng và Nhà nước đã xác định: Giai đoạn 2026-2030 cần có sự thay đổi trong mô hình tăng trưởng, để hướng đến mục tiêu tăng trưởng đạt mức hai con số. Theo ông, vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ được định vị như thế nào trong mô hình tăng trưởng mới này?

Trong mô hình tăng trưởng mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là lĩnh vực hỗ trợ, mà phải được định vị là động lực trung tâm. Vấn đề then chốt không chỉ nằm ở chủ trương, mà phải xác định đúng đâu là động lực phát triển khoa học công nghệ và cơ chế kích hoạt động lực đó như thế nào. Thực tiễn cho thấy: Sáng tạo chỉ thật sự bền vững khi được dẫn dắt bởi hai yếu tố cốt lõi là “quyền sở hữu được bảo đảm rõ ràng” và “lý tưởng phát triển gắn với lợi ích lâu dài của quốc gia, gắn với sự phát triển của đất nước”.

Trong đó, vai trò của Nhà nước được định vị lại theo hướng Nhà nước kiến tạo phát triển, tập trung đầu tư vào hạ tầng công nghệ nền tảng, đồng thời hoàn thiện hạ tầng pháp lý để các ý tưởng sáng tạo được bảo vệ quyền sở hữu, được thương mại hóa và có điều kiện lan tỏa trong toàn nền kinh tế.

Khi Nhà nước làm tốt vai trò kiến tạo, thị trường vận hành minh bạch và khu vực tư nhân được giải phóng năng lực sáng tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ trở thành trụ cột thực thụ của mô hình tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.

z7342802923024-9add98874b0ea1809d0178300f49f2ff.jpg
Máy bay Boeing 787-9 của Vietnam Airlines đã thực hiện chuyến bay chở khách chính thức đầu tiên đến sân bay Long Thành ngày 19/12/2025. (Nguồn ACV)

Hướng đến mục tiêu tổ chức lại lãnh thổ kinh tế

Có ý kiến cho rằng, hiện mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn chậm chuyển đổi, chủ yếu dựa vào vốn và lao động, trong khi các động lực như khoa học công nghệ, kinh tế tri thức chưa có đóng góp đáng kể. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

Nhận định này là xác đáng và phản ánh đúng thực trạng của mô hình tăng trưởng hiện nay. Trong thời gian qua, hoạt động kinh tế của khu vực trong nước chủ yếu sôi động ở các lĩnh vực như bất động sản, tài chính, ngân hàng. Đây chỉ là sự sôi động ở bề nổi, mang tính chu chuyển vốn nhiều hơn là tạo ra giá trị gia tăng thực chất. Trong khi đó, khu vực sản xuất chủ yếu do khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đảm trách. Doanh nghiệp trong nước, vốn được xem là “trái tim của nền sản xuất”, lại có dấu hiệu yếu dần và chưa có được vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị.

Để hóa giải tình trạng này, trọng tâm chính sách cần được đặt vào việc phát triển hạ tầng, hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất trong nước. Khi khu vực này được củng cố và trở nên mạnh hơn, họ sẽ có đủ năng lực để kết nối hiệu quả với khu vực FDI và kinh tế nhà nước, từ đó hình thành một nền tảng sản xuất vững chắc, cân bằng hơn cho toàn nền kinh tế, nâng cao năng lực tự chủ, phát huy tốt hơn các lợi thế từ hội nhập kinh tế quốc tế.

Cách tiếp cận này không chỉ giúp phục hồi, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, mà còn tạo ra nguồn thu bền vững cho ngân sách trong trung và dài hạn.

Đứng trước yêu cầu phát triển mới, Việt Nam phải làm gì để có thể phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa mục tiêu chiến lược đã đề ra, thưa ông?

Thế giới biến động sâu sắc và cạnh tranh phát triển chủ yếu dựa vào năng lực nội sinh. Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải xác lập một mô hình tăng trưởng mới theo hướng đột phá về chất, chứ không chỉ mở rộng về lượng.

Tôi cho rằng có một số việc then chốt cần làm. Trước hết là đột phá thể chế, bởi thể chế chính là “hạ tầng” của tăng trưởng. Khi môi trường thể chế minh bạch, kỷ luật thực thi nghiêm, doanh nghiệp mới dám đầu tư dài hạn, dám đổi mới và dám lớn. Tiếp đến là tái cấu trúc không gian phát triển theo tư duy liên kết vùng và tổ chức lại lãnh thổ kinh tế.

Việc sắp xếp đơn vị hành chính lãnh thổ và kiện toàn mô hình chính quyền địa phương hai cấp là tiền đề quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là phải biến cải cách đó thành năng lực điều phối vùng, hình thành các cực tăng trưởng mới có tính bổ trợ lẫn nhau. Đồng thời, tạo đột phá hạ tầng mở đường cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất; kích hoạt động lực nội sinh, đặt doanh nghiệp trong nước vào trung tâm của chiến lược phát triển. Mặt khác, chúng ta phải thống nhất và nhất quán quan điểm: Coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, gắn trực tiếp với bài toán nâng năng suất và tạo giá trị mới.

Ngay trong những ngày cuối năm 2025, Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã chính thức được đi vào hoạt động. Đây là một cấu phần chiến lược trong quá trình tái định vị vai trò của Việt Nam trong mạng lưới tài chính khu vực và toàn cầu, nâng tầm hội nhập tài chính và vị thế phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Với một mô hình tăng trưởng nhanh, bền vững và bao trùm, Việt Nam có thể hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trong năm 2026 và những năm tiếp theo. Quan trọng là nếu người dân được đặt ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu cuối cùng, vừa là động lực của mô hình tăng trưởng mới, đất nước sẽ có đủ nền tảng để phát triển nhanh, bền vững và tự tin hơn trong một thế giới nhiều biến động.

Trân trọng cảm ơn ông! ■

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo, Việt Nam buộc phải thực hiện một sự chuyển đổi căn bản trong mô hình tăng trưởng, từ phát triển theo chiều rộng dựa chủ yếu vào mở rộng vốn vay, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang phát triển theo chiều sâu dựa trên nâng cao năng suất, tạo ra giá trị mới và thúc đẩy đổi mới sáng tạo”.

Có thể bạn quan tâm

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.