Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV Đảng Cộng sản Việt Nam ra mắt Đại hội. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV Đảng Cộng sản Việt Nam ra mắt Đại hội. (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Trong thế kỷ XX, hàng chục cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã giành thắng lợi, làm hình thành hệ thống thế giới các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Mỗi cuộc cách mạng đều thể hiện những quy luật chung và những đặc thù sinh động.

Việt Nam là một trường hợp điển hình: Đây là cuộc cách mạng chống thực dân, đế quốc, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là cuộc cách mạng có nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh; là sự nghiệp quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ xuất phát điểm thấp và trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, kéo dài hàng thập kỷ; là sự nghiệp của giai cấp công nhân và toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng (1930-2026), trong đó có 40 năm đổi mới (1986-2026), Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh có nhiều đóng góp đặc sắc đối với nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội:

Một là, khai mở con đường lớn của thời đại ngày nay: Con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ XIX, các nhà kinh điển C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở hàng loạt quốc gia châu Âu có trình độ phát triển cao của chủ nghĩa tư bản. Bước sang thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền, trở thành hệ thống đế quốc trên phạm vi toàn thế giới, phát triển không đều và bộc lộ những điểm yếu.

Lãnh tụ V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích đã chuẩn bị mọi mặt, chớp thời cơ, làm nên Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, khai sinh chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử ở một quốc gia chưa đạt trình độ cao của chủ nghĩa tư bản. Cũng vào đầu thế kỷ XX, xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa như một chủ đề mới của nền chính trị thế giới nói chung và cách mạng thế giới nói riêng.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa thực dân như con đỉa hai vòi; cuộc cách mạng vô sản ở thuộc địa đủ điều kiện và phải nổ ra trước, tạo điều kiện cho cách mạng vô sản ở chính quốc sau đó. Người đã lãnh đạo giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bắt đầu từ Việt Nam và tiếp tục ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào…, cách mạng chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã giành thắng lợi, vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường lớn của thời đại ngày nay.

Bắt đầu từ Việt Nam và tiếp tục ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào…, cách mạng chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã giành thắng lợi, vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường lớn của thời đại ngày nay.

Hai là, bổ sung, hoàn thiện nhận thức về quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vận dụng quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen về “thời kỳ chuyển biến cách mạng” và của V.I.Lênin về “bước quá độ gián tiếp”, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu, phong kiến-thuộc địa, chưa trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa.

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lâu dài, phức tạp, gồm nhiều giai đoạn, bước đi và chỉ hoàn thành khi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó phải bảo đảm tính biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; phải bảo đảm mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giữa giai cấp và dân tộc, giữa xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ mục tiêu đến nội dung, động lực, hình thức và bước đi… được thể hiện trong các Cương lĩnh của Đảng, thật sự có giá trị tham khảo đối với các lực lượng xã hội chủ nghĩa trên thế giới hiện nay.

Ba là, khẳng định bản chất giải phóng và phát triển của chủ nghĩa xã hội. Từ cuối thế kỷ XX, xuất hiện câu hỏi lớn: Chủ nghĩa xã hội là gì? Từ thực tiễn Việt Nam, đã hình thành câu trả lời: Chủ nghĩa xã hội là giải phóng và phát triển. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự nghiệp đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc; đồng thời, là sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi chế độ bóc lột, áp bức; là sự nghiệp giải phóng xã hội, đem lại bình đẳng và công bằng xã hội cho nhân dân; là sự nghiệp từng bước giải phóng lao động để lao động không bị tha hóa và không làm tha hóa con người, giải phóng mọi lực lượng sản xuất và tiềm năng lao động trong xã hội; tiến tới giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, đầy đủ, hài hòa.

Để thực hiện những nấc thang giải phóng như vậy, chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải là xã hội giàu mạnh, phồn vinh, thịnh vượng; đói nghèo, lạc hậu không thể là chủ nghĩa xã hội. Điều đó đã được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”[1]; “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”[2] và đã được khẳng định trong quan điểm, đường lối, chính sách xây dựng đất nước hiện nay.

Đảng Cộng sản Việt Nam được lãnh tụ Hồ Chí Minh rèn luyện “là đạo đức, là văn minh”, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc[5]. Chính vì vậy, Đảng được toàn dân gọi với danh xưng gần gũi, máu thịt: “Đảng ta”.

Bốn là, khẳng định tính đa dạng về mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lưu ý: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác... ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”[3].

Trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở bám sát điều kiện cụ thể của đất nước và các xu thế lớn của thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước làm sáng tỏ, hoàn thiện nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đến nay, đã hình thành nhận thức chung, cụ thể và sinh động trong toàn dân về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” bao gồm 8 đặc trưng, 8 phương hướng cơ bản và các mối quan hệ lớn, cùng với 3 trụ cột mới được bổ sung trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Trên các phương diện cơ bản, có thể khẳng định, đã hình thành lý luận về chủ nghĩa xã hội Việt Nam như sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới; một đóng góp có giá trị to lớn đối với lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội trong một “Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen”[4].

Năm là, xây dựng chính đảng tiền phong “là đạo đức, là văn minh”. Trước kia, C.Mác và Ph.Ăngghen phải dành trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chính đảng tiền phong của giai cấp vô sản về tư tưởng, làm cho lý luận cộng sản thâm nhập sâu rộng vào phong trào công nhân nói chung, trước hết là đội ngũ cộng sản. Là lãnh tụ đầu tiên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin dành trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng Đảng Bôn-sê-vích về tổ chức, bộ máy và cán bộ.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; hết lòng hết sức phụng sự Đảng, nhân dân, Tổ quốc và nhân loại; thực hành đoàn kết; thường xuyên phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí, quan liêu; trau dồi chủ nghĩa quốc tế vô sản; rèn luyện suốt đời để trở thành tấm gương cho quần chúng noi theo…

Đảng Cộng sản Việt Nam được lãnh tụ Hồ Chí Minh rèn luyện “là đạo đức, là văn minh”, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc[5]. Chính vì vậy, Đảng được toàn dân gọi với danh xưng gần gũi, máu thịt: “Đảng ta”.

Nếu nhìn lại những đổ vỡ, thất bại của một số chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới từ cuối thế kỷ XX đến nay, trước hết, là sự đổ vỡ từ bên trong, một sự tự thất bại do bộ phận không nhỏ đảng viên tha hóa, biến chất, sẽ thấy rõ hơn quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng sống còn của nhiệm vụ xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức là một đóng góp có giá trị thực tiễn rất to lớn đối với công tác xây dựng chính đảng cách mạng tiền phong nói chung.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã trở thành một trong những lực lượng tiên phong trong cách mạng giải phóng dân tộc của thế kỷ XX; đồng thời, bằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, trở thành chủ thể hàng đầu đem lại sức sống cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội trong những bước vận động quanh co, phức tạp của thế giới ngày nay. Những thành tựu lý luận và thực tiễn đổi mới chủ nghĩa xã hội Việt Nam đã tô thắm hơn nữa “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng, đem lại tiền đề, sức mạnh quý báu cho dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu.


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.13, tr.78. [2] Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.390.
[3] Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.391.
[4] https://nhandan.vn/du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-post915432.html (Truy cập 10h05 ngày 8/1/2026).
[5] https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/dieu-le-dang/dieu-le-dang-do-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xi-cua-dang-thong-qua-3431.

Có thể bạn quan tâm

[Video] Thời sự 24h ngày 12/8/2026: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước Australia

[Video] Thời sự 24h ngày 12/8/2026: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước Australia

Bản tin cập nhật những vấn đề nổi bật: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước Australia; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bắt đầu thăm cấp Nhà nước tới New Zealand; Sản lượng điện toàn hệ thống đạt 32,03 tỷ kWh trong tháng 7.

Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung và Bộ trưởng Ngoại giao Australia Penny Wong đồng chủ trì Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam-Australia lần thứ 8. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam-Australia lần thứ 8

Ngày 12/8, tại Canberra, Australia, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Ngoại giao Australia Penny Wong đồng chủ trì Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam-Australia lần thứ 8 (FMM-8).

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam làm việc với Đoàn Trung tâm Fidel Castro Ruz (Cộng hòa Cuba) do Tiến sĩ René González Barrios, Giám đốc Trung tâm làm Trưởng đoàn, nhân dịp Đoàn sang thăm và làm việc tại Việt Nam vào ngày 18/5/2026. (Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

Tăng cường hợp tác trao đổi lý luận giữa Tư tưởng Hồ Chí Minh với Tư tưởng lãnh tụ lịch sử Fidel Castro tại Việt Nam và Cuba trong thời gian tới

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Cuba, việc duy trì, bảo vệ nền tảng tư tưởng cách mạng: Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam, Tư tưởng lãnh tụ lịch sử Fidel Castro ở Cuba có ý nghĩa quan trọng, mang tầm chiến lược đối với cách mạng mỗi nước.

Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng trao Kỷ niệm chương cho 3 cá nhân có đóng góp xuất sắc trong công tác gìn giữ và lan tỏa tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Lan tỏa phong trào gìn giữ tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức, tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, giảng dạy, tôn vinh tiếng Việt; vận động các nước có đông người Việt đưa tiếng Việt vào chương trình giáo dục; hỗ trợ đào tạo giáo viên, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số.

Các đại biểu, giảng viên và 50 học viên kiều bào tham gia Khóa tập huấn chụp ảnh kỷ niệm. (Ảnh: KHÁNH LAN)

Khai mạc Khóa tập huấn phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho giáo viên người Việt Nam ở nước ngoài

Công tác dạy và học tiếng Việt vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là việc làm thiết thực đưa tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài vào cuộc sống; góp phần giúp thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài hiểu về cội nguồn, nuôi dưỡng tình cảm với quê hương, đất nước.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam viếng và dự Lễ truy điệu đồng chí Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Lào.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú dự Lễ truy điệu đồng chí Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Lào

Ngày 12/8, tại thủ đô Viêng Chăn, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam viếng và dự Lễ truy điệu đồng chí Saysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Lào.

Người dân xã Ia Nan tự nguyện giao nộp vũ khí tự chế, vật liệu nổ tại trụ sở Công an xã. (Ảnh: Công an tỉnh Gia Lai)

Gia Lai: Lan tỏa mô hình vận động thu hồi vũ khí nơi cơ sở

Bằng nhiều hình thức tuyên truyền linh hoạt và xây dựng các mô hình vận động phù hợp thực tế cơ sở, Công an tỉnh Gia Lai đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của người dân. Trong đó, việc tự giác giao nộp các loại súng tự chế, vật liệu nổ đã góp phần loại trừ nguy cơ mất an toàn, giữ vững an ninh trật tự tại các buôn làng.

Đại biểu Quốc hội làm việc tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Đổi mới quản trị, tạo động lực phát triển cho hai thành phố trực thuộc Trung ương

Tán thành sự cần thiết thành lập hai thành phố trực thuộc Trung ương, các đại biểu cho rằng đây không chỉ là sự thay đổi về đơn vị hành chính mà phải gắn với đổi mới mạnh mẽ thể chế, phương thức quản trị và nâng cao năng lực của bộ máy chính quyền đô thị; đi cùng bảo tồn di sản, văn hóa và bảo vệ môi trường.