Ðổi mới công nghệ cơ giới hóa khai thác than hầm lò

Ðã qua thời kỳ dài các mỏ khai thác than hầm lò không có khả năng đầu tư xuống sâu, một số mỏ phải tranh thủ khai thác lộ thiên để bù sản lượng. Bây giờ, đã đến lúc nếu chỉ nghiêng về khai thác lộ thiên, sẽ không thể thực hiện quy hoạch phát triển của ngành than, đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy, ngành than đang chuyển mạnh sang khai thác hầm lò.

Ðầu tư áp dụng công nghệ dàn chống thủy lực trong khai thác than hầm lò ở Công ty than Dương Huy. Ảnh: QUANG HUY
Ðầu tư áp dụng công nghệ dàn chống thủy lực trong khai thác than hầm lò ở Công ty than Dương Huy. Ảnh: QUANG HUY

Xây mỏ giếng đứng hiện đại

Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ngành than phải bảo đảm tăng sản lượng khai thác than khoảng 45 triệu tấn như hiện nay lên 64,6 triệu tấn vào năm 2015 (gần 34%) và 71,9 triệu tấn vào năm 2020 (11,4% so năm 2015) và đạt 87 triệu tấn vào năm 2030, trong đó khai thác than hầm lò tăng từ 21,4 triệu tấn năm 2011 lên gần 40 triệu tấn năm 2015; gần 77 triệu tấn vào năm 2030.

Theo tài liệu thăm dò địa chất, nếu khai thác than ở mức âm 150 m so mặt nước biển, trữ lượng tài nguyên đã tìm kiếm được khoảng 3,6 tỷ tấn. Nguồn than này tập trung ở các khu vực Vàng Danh, Mạo Khê, Hà Lầm và kéo dài đến Khe Tam, Khe Chàm thuộc TP Cẩm Phả. Vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, khai thác than hầm lò chủ yếu là lò bằng. Riêng mỏ Mông Dương (Công ty than Mông Dương hiện nay) mở lò giếng sản xuất tới mức âm 100 m, nhưng gặp phải nhiều khó khăn trong sản xuất, sản lượng hằng năm giai đoạn 1990 - 2000 trở về trước cũng chỉ đạt hơn 20 nghìn tấn/năm. Vì vậy, muốn khai thác xuống sâu, đạt hiệu quả phải đầu tư công nghệ tiên tiến trong khai thác than hầm lò. Công ty than Hà Lầm, một đơn vị khai thác than hầm lò có tuổi đời trăm năm, nhưng sản lượng chỉ quanh quẩn ở mức 300 nghìn tấn/năm. Vài năm trở lại đây, được đầu tư công nghệ tiên tiến, cũng những đường lò ấy, nhưng cho sản lượng khai thác tăng 30 - 40%. Các thiết bị bốc xúc đều được cơ giới hóa như máy đào lò hiện đại AM-50Z, khoan tự hành tam-rốc,... đưa năng suất một lò chợ lên 20 - 30 nghìn tấn/tháng và 200-300 nghìn tấn/năm, gần bằng cả sản lượng toàn mỏ trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Hiện nay, Hà Lầm đang khai thác ở độ sâu âm 150 m và đầu tư 2.200 tỷ đồng mở vỉa bằng ba lò giếng đứng tới mức âm 300 m so mặt nước biển. Ngày 12-11-2009, tại lò giếng mang tên "12-11" - Ngày "Miền mỏ Bất khuất", thợ mỏ Hà Lầm đã đặt chân chạm đích đường lò ở độ sâu âm 300 m, một dấu ấn đầy tự hào trong quá trình xây dựng và phát triển ngành than, thể hiện sự quyết tâm trong lộ trình cơ giới hóa, hiện đại hóa khâu khai thác hầm lò. Dự án hoàn thành sẽ đủ tài nguyên cho mỏ khai thác trong thời gian 40 - 50 năm với sản lượng 2,5 triệu tấn/năm. Năm nay, Hà Lầm phấn đấu đạt sản lượng khai thác 2,4 triệu tấn, gần gấp mười lần sản lượng trước đây. Mỏ than Thống Nhất, nay là Công ty than Thống Nhất cũng có tuổi đời trăm năm. Nhờ cơ giới hóa đồng bộ khâu khai thác than hầm lò ở tất cả 11 lò chợ bằng máy khấu com-bai, xe khoan tự hành, băng tải vận chuyển than,... năng suất lò chợ cũng vì thế tăng từ 40 - 50 nghìn tấn/năm lên 80 - 90 nghìn tấn và 120 nghìn tấn/năm. Ðể mở rộng diện khai thác, Công ty than Thống Nhất đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng khai thác lò giếng nghiêng xuống mức sâu âm 140 m ở khu Lộ Trí để đến năm 2015, toàn mỏ đạt sản lượng hai triệu tấn/năm đi vào thế ổn định và phát triển bền vững.

Tháng 11-2013, Công ty than Khe Chàm đã tổ chức đón tấn than đầu tiên tại mỏ mới Khe Chàm III sau bảy năm xây dựng. Mỏ được khai thông bằng cặp giếng nghiêng mang tên gọi "An khang" và "Thịnh vượng". Chiều dài mỗi giếng gần 1,6 km, dốc thoải 12 độ, được thiết kế từ mặt bằng 25 m (so mực nước biển) thẳng xuống mức âm 300 m, với công suất mỏ 2,5 triệu tấn/năm. Các lò chợ được đầu tư cơ giới hóa hiện đại, lần đầu áp dụng công nghệ giàn chống siêu nhẹ, cho năng suất vượt xa trước đây, tiết kiệm chi phí sản xuất. Dự án đầu tư cả trạm giám sát người ra vào mỏ, lắp đặt ca-mê-ra tại các vị trí trọng điểm, truyền hình ảnh trực tiếp về trung tâm điều hành, giúp ứng phó kịp thời công tác cứu hộ, cứu nạn khi tình huống xấu xảy ra.

Áp dụng cơ giới hóa vào khai thác

Nhìn lại từ năm 1996, cả ngành than mới có một vài mỏ tiên phong thử nghiệm đưa cơ giới vào khai thác than hầm lò bằng vì ma sát thay cho chống giữ lò bằng gỗ, thì nay công nghệ đó đã lạc hậu. Hiện tại, 100% số lò chợ khai thác than đã được áp dụng công nghệ vì chống thủy lực, từ cột thủy lực đơn, rồi giá thủy lực di động, tiến tới khung giá thủy lực để chống giữ lò. Lò chợ được cơ giới hóa đồng bộ, từ khâu đào than đến khâu vận chuyển, sử dụng máy khấu than com-bai, khoan tự hành tam-rốc, máy đào lò hiện đại AM-50Z, AM-45, máy khoan đường kính lớn BGA-2M, máy xúc đá, máy cào vận chuyển bằng băng tải, xe điện ở lò bằng, tời trụ ở giếng nghiêng,... Như vậy, đến nay không còn đơn vị nào của ngành than khai thác hầm lò thủ công bằng chống gỗ, buồng cột và đào lò lấy than. Ngành than đã có chục lò chợ cơ giới hóa đồng bộ bằng giàn chống 2AH III tại Công ty than Mạo Khê, Hồng Thái, giàn chống tự hành Vinaalta tại Công ty than Vàng Danh, Nam Mẫu, giàn chống cơ giới hóa đồng bộ do Trung Quốc chế tạo tại Công ty than Khe Chàm, hơn 30 lò chợ chống bằng giá khung thủy lực ZH, GK, ZL, ZHT được đầu tư cho khai thác lò chợ công suất cao, có 50 lò chợ chống lò bằng thủy lực đơn và 48 lò chợ sử dụng giá thủy lực XDY đang hoạt động tại các mỏ than hầm lò. Nhiều đơn vị đã áp dụng thành công đào lò bằng máy com-bai AM-45 và AM-50Z để nâng cao tiến độ đào lò phục vụ mở rộng diện sản xuất. Ðồng thời, ngành than còn đầu tư đồng bộ các thiết bị an toàn như máy khoan thăm dò phòng sự cố, phụt khí, bục nước; thiết bị an toàn phòng nổ hầm lò, hệ thống tự động giám sát khí mê-tan, cơ bản kiểm soát khí 24/24 giờ hằng ngày ở các nơi làm việc, hệ thống tự động giám sát người ra vào mỏ, chỉ huy sản xuất tập trung qua màn hình in-tơ-nét, hệ thống thông gió, các trạm đo khí, cấp nước cứu hỏa,... nhằm nâng cao mức độ an toàn trong sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc cho thợ mỏ, giảm ô nhiễm môi trường, giảm tổn thất than và các chi phí sản xuất, bảo đảm ngành than sản xuất kinh doanh bền vững và hiệu quả.

Có thể khẳng định, lộ trình phát triển ngành than bền vững chủ yếu nhờ khai thác than hầm lò và việc áp dụng công nghệ hiện đại, cơ giới hóa khai thác than là bước đi đúng hướng. Bởi 90% trữ lượng than tìm kiếm được phải khai thác than lò bằng và lò giếng, xóa bỏ dần việc khai thác lộ thiên. Khai thác than hầm lò có điều kiện xuống sâu, giảm chi phí bốc xúc đất đá, bảo vệ được môi trường sinh thái. Do vậy, đầu tư mở mới các mỏ than bằng giếng đứng, đổi mới công nghệ để có điều kiện khai thác than vỉa sâu là rất cần thiết, ngoài ra còn tạo ra bước phát triển mới bền vững của ngành than trong công cuộc xây dựng đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Hồ Hải (thứ 2 từ phải qua), cùng các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy chủ trì cuộc họp.

Cà Mau tập trung tháo gỡ nút thắt, quyết tâm đạt tăng trưởng hai con số

Chiều 22/6, đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau, cùng các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GRDP tỉnh Cà Mau lần thứ hai, nhằm đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm và thảo luận kịch bản bứt phá cho giai đoạn 2026-2030.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chứng khoán ngày 22/6: VN-Index bứt phá gần 34 điểm, nhóm bất động sản dẫn dắt đà tăng

Phiên giao dịch ngày 22/6, sắc xanh chiếm ưu thế trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Cổ phiếu bất động sản trở thành tâm điểm với VIC và VHM tăng kịch trần đóng góp lớn nhất vào đà đi lên của chỉ số VN-Index, bất chấp áp lực bán ròng từ khối ngoại. Chốt phiên, VN-Index tăng 33,38 điểm, lên mức 1.857,91 điểm.

Ảnh minh họa.

MXV-Index đánh mất gần 2%, lùi về vùng thấp nhất kể từ cuối tháng 2

Thị trường hàng hóa khép lại tuần giao dịch vừa qua (15-19/6) với diễn biến trái chiều. Áp lực bán mạnh trên thị trường năng lượng sau những tín hiệu tích cực từ tiến trình đàm phán Mỹ-Iran đã kéo giá dầu giảm sâu, qua đó khiến chỉ số MXV-Index mất gần 2% và lùi xuống 2.652 điểm - vùng giá thấp nhất kể từ cuối tháng 2.

Đẩy mạnh phối hợp liên ngành là một trong những giải pháp quan trọng được Thuế tỉnh Quảng Trị triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

Thuế tỉnh Quảng Trị đồng hành cùng người nộp thuế

Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từng bước phục hồi, thị trường bất động sản chưa thực sự khởi sắc, Thuế tỉnh Quảng Trị đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thuế, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.

Ông Trần Sơn Tây (xã Tân Hội) chăm sóc vườn cà chua.

Đòn bẩy cho nông dân phát triển bền vững

Trong nhiều năm qua, nông dân tỉnh Lâm Đồng mở rộng sản xuất hay chuyển đổi mô hình nông nghiệp thì “bà đỡ” chính là Nhà nước và ngân hàng. Cũng chính từ đó, nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao hình thành, nâng cao chất lượng sản phẩm và góp phần phát triển kinh tế cho khu vực.

Hiện hệ thống truy xuất nguồn gốc của Việt Nam đã cập nhật khoảng 18.000 sản phẩm của 26/34 tỉnh, thành phố, với 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp tham gia.

Hình thành “hộ chiếu số” cho nông sản Việt

Sau hơn 6 tháng đưa vào vận hành, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường bước đầu hình thành nền tảng dữ liệu cho hàng chục nghìn sản phẩm nông nghiệp trên cả nước. Đây là cơ sở bảo đảm tính minh bạch chuỗi sản xuất, từng bước hình thành “hộ chiếu số” cho nông sản Việt Nam thuận đường xuất khẩu.

Thị trường bất động sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc và phân hóa. (Ảnh: HNV)

Ghi nhận bức tranh đa sắc thái giữa các vùng miền, loại hình sản phẩm bất động sản những tháng đầu 2026

Đánh giá thị trường bất động sản 5 tháng đầu 2026, Batdongsan.com.vn nhận định, kinh tế vĩ mô đã và đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng vững chắc cho thị trường. Đồng thời, tâm lý người mua đang có những điều chỉnh trước các biến động về giá và nguồn cung, lực cầu.

Nhịp độ thi công bất kể ngày đêm tại những đại công trường APEC 2027 tại Phú Quốc. (Ảnh: QUANG HƯNG)

Sử dụng quỹ đất lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư dự án BT

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 66.20/2026/ NQ-CP quy định một số cơ chế, chính sách xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật về sử dụng quỹ đất dự kiến lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện công trình, dự án phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 theo hình thức hợp đồng xây dựng-chuyển giao (dự án BT).

Trung tâm Khu Kinh tế-Thương mại đặc biệt Lao Bảo. (Ảnh: LÂM QUANG HUY)

Mắt xích giao thương trên Hành lang kinh tế Đông-Tây

Khi mặt trời vừa nhô lên khỏi dãy Trường Sơn, từng đoàn xe container nối đuôi nhau từ Lào tiến về cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Trên tuyến đường xuyên Á AH16, đô thị Lao Bảo là điểm cuối của Quốc lộ 9 và là mắt xích quan trọng nối Biển Đông với các nước Lào, Thái Lan.

(Đồ họa: HỒNG ANH)

Nền tảng của ngân hàng hiện đại

Hành trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những chuyển động mạnh mẽ cả về thể chế, hạ tầng công nghệ, dữ liệu, thanh toán số và cải cách hành chính.

Nhân viên Công ty Điện lực Hà Tĩnh sửa chữa bảo dưỡng hệ thống lưới điện.

EVNNPC bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định trước áp lực phụ tải tăng cao

Trong bối cảnh thời tiết nắng nóng diễn biến phức tạp, nhu cầu sử dụng điện trên địa bàn miền bắc tăng mạnh, Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) cho biết, đơn vị đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý vận hành, đầu tư xây dựng, kinh doanh và dịch vụ khách hàng nhằm bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định. 

Các hộ dân phường Hồng Hà nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hà Nội trao 200 “sổ đỏ” đất tái định cư cho người dân phường Hồng Hà

Ngày 20/6, Ủy ban nhân dân xã Thư Lâm và Ủy ban nhân dân phường Hồng Hà, thành phố Hà Nội tổ chức trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện dự án đầu tư xây dựng cầu Tứ Liên và cầu Trần Hưng Đạo.