Đọc sách “Văn minh vật chất của người Việt”

Không kể buổi ra mắt lần đầu năm 2011 tại Yết Kiêu, ít năm sau, tôi tình cờ thấy lại công trình “Văn minh vật chất của người Việt” (nhà xuất bản Tri thức) được đặt tại nơi nghỉ dưỡng của Không gian văn hóa Mường, Hòa Bình. Đó là nơi tác giả, họa sĩ, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng thường lui về nghiên cứu. Ấn tượng về cuốn sách vẫn luôn đặc biệt - nhẹ nhàng, sâu sắc như cách trò chuyện thường thấy của họa sĩ Phan Cẩm Thượng.
Đọc sách “Văn minh vật chất của người Việt”

Cuốn sách“Văn minh vật chất của người Việt” rất dày, hơn 600 trang, được tái hiện dưới dạng những câu chuyện kể thủng thẳng, rủ rỉ, nằm trong 5 phần nội dung và 1 phần kết. Những chương ấy cũng đi từ khái quát tới cụ thể và từ những cụ thể lại đúc kết những điều về văn minh người Việt qua sáng tạo vật chất thường ngày.

Vậy nên, không bất ngờ khi “Văn minh vật chất của người Việt” bản in của nhà xuất bản Thế giới và ZenBooks năm 2018 vừa giành được giải B Giải thưởng sách quốc gia 2021.

Cuốn sách rất dày, hơn 600 trang, được tái hiện dưới dạng những câu chuyện kể thủng thẳng, rủ rỉ, nằm trong 5 phần nội dung và 1 phần kết. Những chương ấy cũng đi từ khái quát tới cụ thể và từ những cụ thể lại đúc kết những điều về văn minh người Việt qua sáng tạo vật chất thường ngày.

Quả là thường ngày, thân thuộc đến nỗi dễ bị quên lãng, xem thường như chuyện ăn uống, đi lại, lao động sản xuất, ma chay, nghệ thuật…

Vậy nên, bạn đọc có thể đọc từ bất kỳ một chương nào đó mình quan tâm, chẳng hạn: Chương 2: “Từ bàn tay đến công cụ” với chuyện đồ gia dụng mây tre đan, đồ gỗ, đồ gốm và đồ kim khí…

Hay chương 3: “Cơm tẻ là mẹ ruột” để biết đồ vật đã kể câu chuyện bữa cơm hằng ngày của ông cha ta ra sao.

Chương 4: “Sống dầu đèn, chết kèn trống” mang đến những hiểu biết đời sống tinh thần, tâm linh người Việt qua đồ thờ tự, qua giấy bút sách vở, đồ trang sức…

Không chỉ là y phục, lời ăn tiếng nói, những truyện thơ Nôm thuộc làu, công cụ lao động sử dụng, hành vi ứng xử… những người bà của tôi có tất cả những cái mà có thể gọi là văn minh Việt Nam

Như bày tỏ của nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng thì động lực và những dẫn dắt ông thực hiện công trình đồ sộ này, thật là giản dị: “Thuở nhỏ khi sống ở Hà Tây, tôi thường ngắm nhìn những bà cụ bận váy sồi vuông, thắt bao ruột tượng xanh, yếm trắng và khoác bên ngoài áo cánh, đầu đội nón thúng, hông giắt xà tích, mà thấy rất ấn tượng.

Các bà cụ ấy như một bảo tàng nhân học và văn hóa di động, mà mãi sau này tôi mới cảm thức được.

Không chỉ là y phục, lời ăn tiếng nói, những truyện thơ Nôm thuộc làu, công cụ lao động sử dụng, hành vi ứng xử… những người bà của tôi có tất cả những cái mà có thể gọi là văn minh Việt Nam.”


Sự thú vị trong cái bình thường

Nói về điều bình thường hẳn luôn là khó, vì ai cũng nghĩ biết cả rồi.

Nhưng dưới con mắt của nhà nghiên cứu, với tất cả sự trân trọng văn hóa và con người (những con người bình thường vốn vắng bóng trong lịch sử)-công trình này mở ra những chuyện sinh động về đời sống người Việt ta suốt dặm dài từ tiền sơ sử đến trước thế kỷ XIX.

“Tại sao người Việt ăn xong hay ngậm một chiếc tăm, tại sao trong hoàng cung đồ sộ lại không có lấy một cái phòng vệ sinh… đấy là cả những câu chuyện thú vị”. Một ngày bình thường của các tầng lớp sĩ-nông-công–thương ra sao, điều gì được tiếp nối, điều gì đã vắng bóng và điều gì là du nhập?

Đến nay, ngoài việc những nông cụ biến mất trong đời sống, đi dần vào bảo tàng thì việc hình dung về sinh hoạt gắn với nông cụ đó càng khó khăn hơn. “Văn minh vật chất của người Việt” lưu giữ những điều ấy – những lao động hết sức bình thường nhưng là chất liệu quan trọng cho tiếp cận văn hóa, lịch sử.

Việc cán mía, nấu mật chi tiết như thế này: “nông dân lắp máy cán mía bằng 2 quả lô gỗ, 1 con trâu, hoặc đôi trâu sẽ được mắc vào xà gắn với trục quay lô, khi trâu đi vòng tròn, 2 quả lô sẽ ép nước mía chảy vào nồi đựng. 2 chảo gang lớn được đặt gần đó để đun nước mía thành mật. Người ta đặt vào giữa chảo 1 cái lồng tre thủng 2 đầu, nước mía có sôi cũng chỉ trào lên miệng lồng tre rồi lại chảy xuống chảo…”.

Rồi đến tục lệ cho trẻ con ăn 1 bát mật nóng hổi đầu tiên…, chuyện chế thành đường cát, đường phèn, kẹo. Khi dùng mật trong xây dựng, người ta thường đái vào đó một bãi để thợ khỏi ăn vụng… Những chi tiết dân gian không thể sống động hơn.

Cũng như vậy, kể chuyện chiếc bánh xe, chiếc cối đá làm ra bao thức quà bánh ngon của người Việt..., Phan Cẩm Thượng khái quát thành cảm thức về vận động tròn mang đến cho người đọc những liên tưởng rộng, hấp dẫn.

Thiết nghĩ, nhiều đồ vật bình dị được tái hiện từ tên gọi đến mô tả công năng thực sự có ý nghĩa với các bạn sinh viên, nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật. Như giỏ, nơm, trúm, đánh lớn, ngõ bàu, nong, nia, sàng, cào… không phải ai cũng phân biệt được tường tận, nhất là với người trẻ.

Bên cạnh những câu chuyện, cuốn sách có hàng trăm hình vẽ, ảnh minh họa giúp người đọc dễ hình dung. Đặc biệt là hình ảnh về nhiều hiện vật đang nằm tại bảo tàng không phải lúc nào cũng có thể tiếp cận. Ngắm ảnh chú cò gỗ trên khung dệt của người Mường thấy cả đời sống tinh thần trong lao động sản xuất của đồng bào–một đời sống đầy mỹ cảm.


Một lịch sử của sáng tạo

Nhiều nhà văn hóa, nhà phê bình cho rằng công trình này của Phan Cẩm Thượng đã chọn lối tiếp cận trước nay chưa thấy ở Việt Nam.

Cùng với đó là một niên biểu công phu ở phụ lục 1 trải suốt chiều dài lịch sử về văn minh vật chất của người Việt. Như vậy, có thể hiểu, bằng cách để đồ vật lên tiếng, tác giả xâu chuỗi một lịch sử sáng tạo của dân tộc ta theo cách rất cụ thể.

Qua chuyện vì kèo trong kiến trúc gỗ Việt Nam, nhà nghiên cứu chia sẻ: “Tư tưởng cấu trúc phát triển rất mạnh mẽ trong mọi khoa chế tác đồ dùng Việt cổ, nó phô bày vẻ đẹp tự thân của đồ vật không cần trang trí…”.

Rồi loại gạch vồ hút ẩm tốt để lát sân thì “dường như là một bí quyết, rất dầy, không bị mốc trong mưa nắng, để hàng ngàn năm không suy suyển”.

Người dân tham quan các công trình tôn giáo vẫn thấy khu hậu cung và thượng điện thường rất tối. Phan Cẩm Thượng lý giải, nơi này vốn bày nhiều đồ thờ và tượng sơn son thếp vàng sẽ phản quang mạnh, tạo một thứ ánh sáng vàng son rực rỡ. Đồng thời, bóng tối và không khí hơi ẩm có tác dụng bảo quản tốt đồ gỗ phủ sơn truyền thống.

“Đền Đa Hòa thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung cũng vậy, gồm nhiều cổng trụ, tường ngăn, sân rộng, đường sâu, nhà bia rỗng, rồi mới vào điện thờ trong cùng gây một cảm giác rất sâu xa, hư tĩnh, không có thực thể. Cách thức này được mọi loại hình kiến trúc cổ sử dụng, tức là tạo các không gian bỏ ngỏ, không nhằm mục đích gì rõ rệt, tạo một không khí linh thiêng…”.

Một cách tự nhiên, công trình còn trải rộng với câu chuyện sáng tạo vật chất ở nhiều dân tộc anh em, một cách tiếp cận mà các nhà dân tộc học chú trọng. Nghĩa là một bức tranh phong phú và đa sắc hơn về văn minh vật chất người Việt không chỉ nhìn từ đồng bằng, mà còn từ núi.

Nhấn mạnh “mức độ nhân văn” (chứ không phải yếu tố kỹ thuật trong tam giác vật chất-kỹ thuật-văn minh), Phan Cẩm Thượng khẳng định “sáng tạo vật chất của người Việt hoàn toàn có thể tạo ra nền văn minh cho người Việt”.

Điều này khiến chúng ta liên tưởng tới tiêu chí những thành phố sáng tạo, thành phố đáng sống trên thế giới - nơi khoa học kỹ thuật chỉ là một yếu tố để phục vụ mục tiêu cao nhất là vì con người.

Tổ tiên dạy tôi cách đọc một đồ vật mà nhìn ra cuộc sống của người sử dụng nó. Bạn đọc cũng sẽ có cách nhìn và hiểu riêng của mình, nếu có thể thì cùng nhau gìn giữ những gì dân tộc đã trải qua.

Nhìn lại lịch sử sáng tạo vật chất trong đời sống hằng ngày của người Việt, nhà nghiên cứu suy tư: “Càng vào thời hiện đại, người ta càng lười suy nghĩ hơn về đồ vật (hay vật chất nói chung), đồ gì cũng được, ai sản xuất cũng được, miễn là tốt và giá rẻ… Dấu ấn dân tộc còn rất ít giá trị, và do đó tinh thần dân tộc trong một đồ vật cũng còn rất ít giá trị”.

Dấu ấn dân tộc-điều này thực sự quan trọng. Trên tất cả những sáng tạo vật chất ấy lưu dấu hành trình vạn dặm của người Việt để thích nghi, phát triển, để không chỉ tồn tại mà còn vươn tới một đời sống sâu sắc về tinh thần.

Vài nét khái quát, còn sự nhẩn nha để thấu hiểu hành trình ấy thuộc về bạn đọc.

Và như Phan Cẩm Thượng mong mỏi thì: “Tổ tiên dạy tôi cách đọc một đồ vật mà nhìn ra cuộc sống của người sử dụng nó. Bạn đọc cũng sẽ có cách nhìn và hiểu riêng của mình, nếu có thể thì cùng nhau gìn giữ những gì dân tộc đã trải qua”.

Có thể bạn quan tâm

Ảnh minh họa. (Ảnh có sử dụng AI)

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa theo trình tự, thủ tục rút gọn

Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30/7/2026 kết luận Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới và giao nhiệm vụ hoàn thiện các dự án Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026) theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Nghệ sĩ Nhân dân Văn Hà (bên phải) chụp cùng nhạc sĩ Đỗ Nhuận vào tháng 5/1975. (Ảnh: TƯ LIỆU)

Tiếp nối khát vọng vun đắp âm nhạc bác học Việt Nam

Trong dòng chảy âm nhạc bác học Việt Nam, Nghệ sĩ Nhân dân Văn Hà là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật opera và nhạc kịch chuyên nghiệp. Hơn nửa thế kỷ sau, những tư duy nghệ thuật và khát vọng của ông vẫn tiếp tục được các thế hệ nghệ sĩ kế thừa. 

Cảnh trong vở "Các cụ gánh còng lưng" (Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh Ninh Bình) - tác phẩm đạt Huy chương Vàng vở diễn tại Liên hoan quốc tế sân khấu thử nghiệm năm 2025.

Đưa sân khấu vào chuỗi giá trị văn hóa

Những năm qua, sân khấu Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tìm tòi, đổi mới. Không ít vở diễn được đầu tư công phu, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật và bản sắc dân tộc, được giới chuyên môn ghi nhận. Tuy vậy, vẫn có khá nhiều vở diễn sức sống của tác phẩm chưa tương xứng với chất lượng sáng tạo.

Nhà thiết kế Hàn Phượng (đứng chính giữa) và dàn nghệ sĩ ra chào khán giả.

Bộ sưu tập áo dài Việt Nam của nhà thiết kế Hàn Phượng mở màn Global Fashion Week All Stars 2026

Tối 31/7, bộ sưu tập mới "Huyền sắc non cao" của nhà thiết kế Hàn Phượng gây chú ý với màn trình diễn của nhiều nghệ sĩ được công chúng yêu mến, mang đến hành trình nghệ thuật lấy cảm hứng từ thiên nhiên, văn hóa và con người miền núi phía bắc, góp phần lan tỏa vẻ đẹp của áo dài Việt Nam trên sàn diễn thời trang quốc tế.

Các đại biểu, diễn viên Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh cùng các em tham gia khóa học chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: LINH ĐOAN)

Nuôi dưỡng đam mê kịch nói cho thiếu nhi

Lần đầu tiên, Nhà hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức lớp dạy kỹ năng biểu diễn sân khấu học đường cho học sinh trên địa bàn. Sau một khóa học kéo dài gần 2 tháng, các bạn nhỏ đã mở cánh cửa đầu tiên trên hành trình khám phá vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật kịch nói.

Cơ chế đặt hàng cần hướng tới tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài.

Đổi mới cơ chế đặt hàng để thúc đẩy công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định mục tiêu đẩy mạnh phát triển, đưa công nghiệp văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của phát triển đất nước. Muốn hiện thực hóa, cơ chế đặt hàng cần thay đổi theo hướng chuyển từ tư duy đầu tư cho tác phẩm sang đầu tư cho tài sản văn hóa.

Đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ trình bày diễn văn kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026)

Tối 31/7, tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, xã Lê Quý Đôn (tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng tỉnh Hưng Yên tổ chức lễ kỷ niệm cấp quốc gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam phát biểu ý kiến tại hội thảo.

Bài học từ Báo Việt Nam Độc lập: Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm mục tiêu cao nhất của hoạt động báo chí

Chiều 30/7, tại Trung tâm hội nghị tỉnh, tỉnh Cao Bằng phối hợp Báo Nhân Dân, Hội Nhà báo Việt Nam, Trường đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn, Bảo tàng Báo chí Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học "Báo Việt Nam Độc lập - Giá trị lịch sử và khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới".

Nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả trong kỷ nguyên số

Nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả trong kỷ nguyên số

Chiều 30/7, tại Hà Nội, Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Cục Bản quyền tác giả Nhật Bản tổ chức Hội thảo về thực thi bản quyền trên môi trường số, quy tụ đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức thực thi quyền tác giả, doanh nghiệp và chuyên gia hai nước.

Ảnh minh họa. (Báo Nhân Dân)

Quảng Trị khuyến khích ứng dụng chuyển đổi số trong tổ chức việc cưới

Ngày 29/7, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cho biết, vừa ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội. Đặc biệt, tỉnh khuyến khích ứng dụng chuyển đổi số trong tổ chức việc cưới. 

Cuốn sách "Huyền thoại tàu không số" của tác giả Đình Kính kể lại lịch sử bằng chính dòng chảy ký ức của những người đã trực tiếp sống, chiến đấu làm nên huyền thoại.

Huyền thoại tàu không số: Bản hùng ca bất tử trên biển

Khác với những cuốn sách lịch sử thường tập trung vào sự kiện và mốc thời gian, những chiến công, "Huyền thoại tàu không số" của nhà văn Đình Kính chọn cách tiếp cận độc đáo kể lại lịch sử bằng chính dòng chảy ký ức của những người đã trực tiếp sống, chiến đấu làm nên huyền thoại.