Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ giảm tổn thất sau thu hoạch

Tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch của nhiều mặt hàng, đặc biệt là rau quả và thủy sản ở Việt Nam, vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Đặc biệt với các sản phẩm rau quả và thủy sản, thiệt hại ước tính 3,5 - 4,1 tỷ USD mỗi năm.

Đưa công nghệ vào khâu bảo quản sau thu hoạch được các nhà sản xuất quan tâm và đẩy mạnh nhiều năm qua. Ảnh: NGUYỆT ANH
Đưa công nghệ vào khâu bảo quản sau thu hoạch được các nhà sản xuất quan tâm và đẩy mạnh nhiều năm qua. Ảnh: NGUYỆT ANH

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Bộ NN&MT), hiện nay tỷ trọng chế biến trong nông, lâm, thủy sản đang tăng, từng bước thay thế sản xuất thô. Việc ứng dụng công nghệ bảo quản và chế biến đã giúp giảm tổn thất sau thu hoạch từ 5 - 10% và kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm.

Công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn

Cách đây gần 10 năm, Viện Nghiên cứu Phát triển vùng (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã hợp tác với Công ty ABI Nhật Bản chuyển giao thành công công nghệ bảo quản thực phẩm đông lạnh hiện đại CAS (Cells Alive System - Hệ thống tế bào còn sống) tại Việt Nam. Công nghệ này cho phép kéo dài thời gian bảo quản nông sản, thủy sản (như tôm, cá, vải, thanh long) lên nhiều tháng mà vẫn giữ được độ tươi ngon.

Tại thời điểm nghiên cứu để hợp tác chuyển giao, những kết quả bước đầu cho thấy sự khả quan và tiềm năng lớn của công nghệ này trong việc bảo quản nông, lâm, thủy sản như bảo quản tôm sú được tới chín tháng, cá ngừ hai tháng, quả nguyên vỏ như vải, nhãn (bảo quản 11 tháng) và hoa quả bóc vỏ, thái lát như thanh long, dưa hấu (bảo quản hai tháng) mà vẫn bảo đảm chất lượng.

CAS có khả năng gạt đi mối lo “được mùa mất giá” cho người nông dân, giúp nhà sản xuất lưu trữ sản phẩm trong kho để sẵn sàng đưa ra thị trường khi được giá cũng như có thể góp phần đưa nông sản, hải sản Việt Nam đến các thị trường cao cấp như Nhật Bản, Mỹ, châu Âu.

Tuy nhiên sau gần 10 năm, công nghệ này hiện nay gần như không được nhắc tới. Lý giải nguyên nhân của sự “mất tích” này, một cán bộ Viện Nghiên cứu phát triển vùng chia sẻ, một mô hình ứng dụng công nghệ với giá thành cao như CAS (từ một đến ba triệu USD) không phù hợp với người nông dân, hợp tác xã mà chỉ có thể là những doanh nghiệp có quy mô vốn từ tầm trung trở lên, trong khi thời gian thu hồi vốn thì khá lâu và rủi ro.

“Chúng tôi đã nghiên cứu công nghệ CAS cho nhiều dòng sản phẩm nhưng chuyển giao gặp rất nhiều khó khăn. Một trong những lý do khiến công nghệ CAS không thể phổ biến ở Việt Nam chính là những e ngại về khả năng thu hồi vốn khi giá thành quá cao”, vị cán bộ này nhận định.

Câu chuyện của công nghệ CAS không hề mới ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, một trong những rào cản khiến công nghệ chế biến, bảo quản, giảm thất thoát sau thu hoạch ở Việt Nam còn chưa đáp ứng được nhu cầu là do nguồn vốn đầu tư còn rất khiêm tốn.

Doanh nghiệp chưa mặn mà với những công nghệ mới, giá thành cao nếu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước. Bên cạnh đó, những công nghệ tiên tiến đều đòi hỏi đầu vào của sản phẩm phải đạt những tiêu chuẩn nhất định. Trong khi đó sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hầu hết là nhỏ lẻ và manh mún.

Việc nghiên cứu công nghệ bảo quản sau thu hoạch dù được quan tâm và đẩy mạnh nhiều năm qua. Nhưng thực tế cũng chưa có những công trình, sản phẩm đáp ứng được tốt nhu cầu của thực tiễn. Hầu hết đều vướng bởi khâu thương mại hóa do thiếu vốn đầu tư.

Trong khi đó việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ cũng đòi hỏi thời gian để giải cứu giải mã công nghệ, đồng thời tự thiết kế, chế tạo ra một số thành phần của dây chuyền nhằm ứng dụng trên thực tiễn có hiệu quả.

Theo số liệu của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của LHQ (FAO): Mỗi năm, hơn 10% khối lượng thực phẩm bị mất mát trong chuỗi cung ứng trước khi đến tay người tiêu dùng. Thậm chí, khi thực phẩm đã vào đến các gia đình, nhà hàng và dịch vụ ăn uống, hơn 1 tỷ tấn thức ăn vẫn tiếp tục bị lãng phí trên toàn thế giới.

Cần những giải pháp đồng bộ

Nói về “lời giải” cho “bài toán” này, PGS, TS Tạ Thị Thu Thủy, Viện trưởng Công nghệ sinh học và thực phẩm, Trường đại học Mở Hà Nội cho rằng, hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp là giải pháp hiệu quả nhất để thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chế biến, bảo quản thực phẩm.

Cách làm này vừa giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa bảo đảm nguồn kinh phí ổn định cho các đơn vị nghiên cứu, đồng thời khiến các đề tài gắn sát với nhu cầu thực tế, dễ dàng ứng dụng vào sản xuất.

“Nhu cầu chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp rất lớn, hàng năm, hàng quý và hàng tháng chúng tôi luôn có doanh nghiệp đến để trao đổi và hiện chúng tôi đã ký hợp tác với hơn 20 doanh nghiệp để phát triển dòng sản phẩm của họ, đồng hành với họ”, bà Thủy chia sẻ.

Các chuyên gia cho rằng, chỉ nỗ lực từ nhà khoa học và doanh nghiệp là chưa đủ. Để khuyến khích doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản và hải sản ứng dụng công nghệ nhiều hơn, cần có sự đầu tư và hỗ trợ chính sách từ Nhà nước để bảo đảm sự đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Trước mắt, cần đơn giản hóa thủ tục pháp lý về xuất nhập khẩu, đồng thời cung cấp các gói tín dụng ưu đãi giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, chế biến và xuất khẩu diễn ra thuận lợi.

Ngoài ra, bà Thủy cho rằng, Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở công nghệ chế biến và bảo quản đơn giản, mà cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ chế biến sâu và các giải pháp bảo quản hiện đại hơn.

“Khi đất nước tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khoa học, công nghệ phát triển, nhu cầu về chế biến và chất lượng sản phẩm nông nghiệp sẽ ngày càng cao, vì thế công nghệ cũng phải theo kịp và đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn”, bà Thủy nhận định.

Còn theo Thứ trưởng NN&MT Phùng Đức Tiến, xét với điều kiện Việt Nam thì việc tiếp nhận những công nghệ tiên tiến trên thế giới phải dựa trên việc xác định rõ sản phẩm ứng dụng ở đâu, quy mô như thế nào, ai sẽ là người áp dụng và ra thị trường sẽ được đón nhận như thế nào. Những câu hỏi này phải được trả lời thấu đáo.

Ông Tiến khẳng định, để giá trị xuất khẩu nông sản đạt mốc 70 tỷ USD, công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch là yếu tố không thể thiếu. Vì vậy, Bộ NN&MT sẽ phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo nông nghiệp tại các vùng, tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Đồng thời, hợp tác quốc tế sẽ được mở rộng, nhất là trong các lĩnh vực chế biến sâu, logistics và cơ giới hóa thông minh, nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

 Tính đến ngày 31/5/2026, Ngân hàng chính sách xã hội đã giải ngân 32.059 tỷ đồng cho 69.204 khách hàng vay vốn.

Nhà chờ người mua, người mua chờ vốn

Trúng quyền mua nhà ở xã hội (NOXH) nhưng chưa thể vay vốn ưu đãi, nhiều gia đình đang lo ngại phải trả lại suất mua. Khi lịch thanh toán đã xác định mà thời điểm giải ngân còn bỏ ngỏ, vấn đề đặt ra là làm sao gắn tiến độ phát triển nhà ở với kế hoạch tín dụng.

Tài sản trí tuệ - Một trong những nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp. Ảnh: NAM NGUYỄN

Định giá để tạo lập thị trường tài sản trí tuệ

Việt Nam đã có hàng chục nghìn văn bằng sở hữu trí tuệ, nhưng phần lớn vẫn nằm trên giá hồ sơ hoặc trong sổ sách của các viện, trường. Khi Chính phủ đặt mục tiêu thí điểm định giá 100 quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), thách thức nằm ở việc tạo ra cơ chế để tài sản vô hình thật sự bước vào thị trường.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Khởi đầu mới cho mối quan hệ cũ

Những năm gần đây, một số yếu tố đã đưa các quỹ đầu tư và công ty chứng khoán (CTCK) xích lại gần nhau hơn, hứa hẹn một thời kỳ “mặn nồng”.

Thách thức với bán lẻ đa trải nghiệm

Chỉ mới tháng 4 năm ngoái, hệ thống bán lẻ đa trải nghiệm Oh!Some xuất hiện tại Việt Nam với nhiều kỳ vọng. Nhưng chỉ sau hơn một năm hoạt động, những ngày gần đây đã xuất hiện thông tin về việc Oh!Some đóng một loạt cửa hàng đặt tại các trung tâm thương mại (TTTM) lớn.

Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Dư địa giảm lãi suất cuối năm

Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng, biên lãi thuần cải thiện nhưng nợ xấu vẫn nhích lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng đang có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay vào cuối năm 2026, dù mức giảm sẽ khó diễn ra trên diện rộng.

Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia giúp các doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị hiện đại. Ảnh: NAM ANH

Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia dành 50 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn đầu tư đổi mới công nghệ trong đợt 1 năm 2026. Chính sách hỗ trợ tới 50% lãi suất được kỳ vọng giảm chi phí vốn, thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư.

Khám, chữa bệnh tại một bệnh viện ngoài công lập. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mở rộng kênh vốn cho y tế tư nhân

Nhu cầu đầu tư lớn nhưng khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế đang là điểm nghẽn với y tế tư nhân. Mở rộng các kênh vốn, trong đó có cho thuê tài chính là một hướng tháo gỡ.

Cùng với nâng cao hiệu quả kinh tế, Việt Nam cần thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, bao trùm và bền vững.

Khơi thông nguồn lực để tăng trưởng 2 con số

6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18%; quý III được dự báo có thể tăng 9,5-10%. Với đà tăng trưởng này, mục tiêu GDP cả năm 2026 tăng hơn 9% được đánh giá là khả thi. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng và hướng tới mục tiêu 2 con số, Việt Nam cần khơi thông đồng thời nhiều nguồn lực của nền kinh tế.

Các doanh nghiệp cần kê khai và nộp thuế đầy đủ với cơ quan quản lý. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nửa còn thiếu của cải cách môi trường kinh doanh

“Cửa vào” thị trường ngày càng rộng, nhưng “cửa ra” vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Khi đặt mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, cải cách môi trường kinh doanh phải bảo đảm cả việc thành lập lẫn rút lui khỏi thị trường đều minh bạch, nhanh gọn.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Kịch tính phút chót

Ngày 21/9 được xem là thời điểm quan trọng của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam khi được FTSE Russell chuyển từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Các cổ phiếu (CP) của Việt Nam sẽ được phân bổ vào các rổ chỉ số toàn cầu của FTSE trong 4 đợt, bắt đầu từ 21/9 là đợt đầu tiên với tỷ trọng phân bổ là 10%.

Lực đẩy mới cho sách

Để sách có thể bán chạy, ngoài yếu tố chất lượng, cần có thêm sức hút. Xu hướng phát triển của mạng xã hội cũng như KOL (cá nhân có ảnh hưởng với công chúng), KOC (người tiêu dùng có tầm ảnh hưởng) đang định hình sức hút mới của sách.

Đối với người dân, giá cả tăng làm giảm sức mua thực tế và buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp lực giữ lạm phát trong giới hạn mục tiêu

Chỉ còn cách mục tiêu kiểm soát lạm phát 0,05 điểm phần trăm, Việt Nam bước vào chặng cuối năm với áp lực cân bằng giữa kiềm chế giá cả và duy trì đà tăng trưởng. Đây sẽ là phép thử đối với hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Hàn Quốc hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Ảnh: NAM ANH

Tạo xung lực tăng trưởng mới

Thương mại song phương hướng tới 100 tỷ USD, còn vốn đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam đã vượt 100 tỷ USD. Trên nền tảng đó, hai nước đang mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới, tạo động lực cho quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Tuyên truyền, hướng dẫn hộ kinh doanh nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật tại xã Tam Hưng, Hà Nội.

Gỡ rào cản để hộ kinh doanh mở rộng quy mô

Hộ kinh doanh là lực lượng quan trọng của kinh tế tư nhân, tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động và giữ vai trò lớn trong lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, khu vực này đang bộc lộ nhiều dấu hiệu suy giảm, đòi hỏi sớm tháo gỡ rào cản để ổn định và phát triển.

Cuộc cạnh tranh hạ tầng trạm sạc sẽ không chỉ nằm ở số lượng trụ sạc mà còn ở công nghệ và hạ tầng số đi kèm. Đồ họa: ANH QUÂN

Cuộc đua phủ sóng hạ tầng trạm sạc xe điện

Cùng với đà tăng trưởng của thị trường xe điện, hạ tầng trạm sạc tại Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển sôi động với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Xu hướng này phản ánh quá trình chuyển dịch sang giao thông xanh đang được thúc đẩy đồng thời từ chính sách và thị trường.

Thanh toán điện tử là xu hướng tất yếu trong quá trình hiện đại hóa giao thông. Ảnh: NGUYỆT ANH

Rà soát thu phí thanh toán điện tử giao thông

Việc các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông thông báo mức phí 6.600 đồng/tháng đối với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng đối với doanh nghiệp đang nhận được sự quan tâm của người sử dụng. Trước những băn khoăn về cơ sở, mục đích và mức độ phù hợp của khoản thu, cơ quan quản lý đã yêu cầu rà soát, bảo đảm hoạt động thu phí đúng quy định, công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

“Tay to” cá nhân

Trước đây, khi nhắc đến những nhà đầu tư (NĐT) lớn trên thị trường chứng khoán (TTCK), hay còn gọi là “tay to”, nhiều người sẽ nghĩ đến các quỹ ngoại, doanh nghiệp lớn, khối tự doanh của công ty chứng khoán… Còn NĐT cá nhân thường là NĐT nhỏ lẻ. Nhưng khoảng nửa thập kỷ gần đây, đã xuất hiện những NĐT cá nhân có quy mô giao dịch không thua gì các “tay to”.

Dự án mở rộng đường cao tốc đoạn Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ. Ảnh: VIẾT DŨNG

Hạ tầng mở đường cho tăng trưởng

Khi những tuyến đường, sân bay và công trình kết nối lần lượt về đích, kỳ vọng lớn hơn không chỉ là thêm những công trình mới mà là mở rộng không gian kinh tế, giảm chi phí và tạo động lực phát triển.

Du lịch và KOL, KOC

Các KOL (cá nhân có ảnh hưởng với công chúng) và KOC (người tiêu dùng có tầm ảnh hưởng) đang hiện diện ngày một nhiều hơn trong các lĩnh vực, mà du lịch là một minh chứng rõ nét.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Việt Nam cần đồng thời giải quyết nhiều bài toán để BESS thật sự trở thành một thị trường.

Cần cú huých cho thị trường pin lưu trữ

Sự phát triển nhanh của năng lượng tái tạo (NLTT) đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển thị trường pin lưu trữ năng lượng (BESS) - công nghệ cho phép tích trữ điện khi nguồn dồi dào và phát lại khi nhu cầu tăng cao, qua đó cân bằng cung - cầu và nâng cao độ ổn định của hệ thống điện.

Một buổi bán hàng trực tuyến của doanh nghiệp. Ảnh: NAM ANH

Bán hàng trực tuyến đổi cách giữ khách

Sức mua trực tuyến vẫn tăng nhưng tốc độ đã chậm lại. Doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang tạo giá trị, xây dựng thương hiệu và thấu hiểu khách hàng bằng dữ liệu.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.