Một doanh nghiệp gần như ngừng hoạt động từ năm 2013, nhưng hơn 10 năm sau, chi phí để hoàn tất thủ tục giải thể có thể lên tới gần 100 triệu đồng, lớn hơn nhiều so với nghĩa vụ thuế ban đầu. Đáng nói, đây không phải là trường hợp cá biệt mà là tình trạng “nóng” trong thời gian gần đây.
Quyền được rời thị trường
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tám tháng năm 2026, cả nước có gần 206.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, có hơn 88.000 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, gần 28.600 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hơn 40.800 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 125,5% so cùng kỳ năm trước.
Trong khi đó, dữ liệu Cục Thuế mới công bố gần đây cho thấy trong 94.991 doanh nghiệp, tổ chức được hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế trong tám tháng, chỉ 23.017 trường hợp đề nghị chấm dứt trong năm 2026; gần 72.000 hồ sơ còn lại đã nộp từ năm 2025 trở về trước. Hai hệ thống thống kê có phạm vi khác nhau, không thể quy đổi trực tiếp, nhưng số liệu thuế cho thấy kết quả xử lý năm nay chứa một khối lượng đáng kể hồ sơ tồn đọng cũ.
Lý giải nguyên nhân của tình trạng này, luật sư Bùi Nhã, Công ty Luật TNHH Tuệ Anh cho biết, Luật Doanh nghiệp 2020 dành một chương với 26 điều cho việc thành lập doanh nghiệp, trong khi thủ tục giải thể chủ yếu được quy định tại 5 điều, từ Điều 207 đến Điều 211. Trên thực tế, quá trình chấm dứt hoạt động còn liên quan đồng thời đến cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế.
Không ít doanh nghiệp khi gặp khó khăn chỉ làm thủ tục tạm ngừng rồi mặc nhiên cho rằng đã chấm dứt hoạt động. Nhưng về pháp lý, tạm ngừng không đồng nghĩa với giải thể. Các nghĩa vụ về kê khai, thuế và quyết toán vẫn phải được xử lý theo quy định.
Khi hồ sơ bị bỏ mặc trong nhiều năm, các khoản phạt chậm kê khai, chậm nộp và tiền chậm nộp có thể tích tụ ngày càng lớn. Vì vậy, một nghĩa vụ ban đầu không đáng kể hoàn toàn có thể trở thành khoản chi hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng khi doanh nghiệp quay lại làm thủ tục giải thể sau hơn một thập kỷ.
“So với vài năm trước đây, các thủ tục giải thể hiện tại thậm chí còn khó khăn hơn nhiều”, luật sư Bùi Nhã cho biết.
Kinh tế thị trường luôn có doanh nghiệp gia nhập, lớn lên và cả những trường hợp phải rời cuộc chơi. Một môi trường lành mạnh vì vậy không chỉ cần mở rộng “cửa vào”, mà còn phải bảo đảm “cửa ra” minh bạch, có trật tự và với chi phí hợp lý, để vốn, lao động và các nguồn lực khác sớm được giải phóng cho những cơ hội mới.
Đồng quan điểm, luật sư Khánh Nhung (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho biết, Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, tương đương 20 doanh nghiệp/1.000 dân. Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 ghi nhận 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động. Quy mô doanh nghiệp cần phát triển thêm trong những năm tới vì vậy vẫn rất lớn.
Tuy nhiên, mục tiêu đó không chỉ là câu chuyện tạo thêm thật nhiều pháp nhân mới. Nghị quyết 68 đồng thời yêu cầu xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, chi phí thấp; số hóa, tự động hóa thủ tục, trong đó nêu rõ thủ tục gia nhập và rút lui khỏi thị trường; cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính và ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật.
Phân tầng rủi ro để bảo đảm mục tiêu
Theo luật sư Bùi Nhã, điểm cần tháo gỡ trước hết là cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Khi doanh nghiệp nộp hồ sơ giải thể, nghĩa vụ thuế và tài chính cần được xác định trong một thời hạn cụ thể, thay vì để hồ sơ kéo dài không có điểm dừng.
Nếu hết thời hạn mà cơ quan quản lý vẫn chưa xác định được nghĩa vụ phát sinh, có thể tạm khoanh hồ sơ trên cơ sở kê khai của chủ doanh nghiệp để hoàn tất thủ tục giải thể. Trường hợp sau này phát hiện thêm nghĩa vụ tài chính, chủ doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm. Cách làm này sẽ giúp xử lý dứt điểm những hồ sơ đủ điều kiện, tránh tình trạng doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ lâu nhưng pháp nhân vẫn bị “treo” chỉ vì thủ tục chưa thể khép lại.
Cùng quan điểm, luật sư Nguyễn Hoàng Hải, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc Quốc hội vừa thông qua Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) mở ra cơ hội tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn, trong đó cần đặc biệt lưu ý đến cơ chế giải thể doanh nghiệp.
Theo ông Hải, nếu “cửa vào” thị trường đã được thiết kế theo hướng nhanh, gọn và thuận lợi thì “cửa ra” cũng cần được cải thiện tương xứng. Doanh nghiệp không còn nhu cầu hoạt động phải chấm dứt tư cách pháp lý một cách minh bạch, thay vì tồn tại nhiều năm trong trạng thái “không hoạt động nhưng chưa giải thể”.
Một trong những điểm nghẽn hiện nay là các quy định liên quan đến giải thể, nhất là nghĩa vụ thuế, còn nằm rải rác ở nhiều văn bản. Vì vậy, cần nghiên cứu một cơ chế hướng dẫn liên ngành, thống nhất cách hiểu và cách áp dụng giữa các cơ quan, hạn chế tình trạng cùng một hồ sơ nhưng mỗi nơi xử lý theo một cách khác nhau.
Ở góc độ quản lý, hướng đi này cũng đang dần được thể hiện trong Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” do Cục Thuế triển khai từ tháng 5/2026. Thay vì áp dụng cùng một mức độ kiểm tra với mọi hồ sơ, chiến dịch lấy dữ liệu làm nền tảng, phân nhóm theo mức độ rủi ro để tập trung nguồn lực. Những hồ sơ cần hỗ trợ, tháo gỡ được tách khỏi nhóm có dấu hiệu rủi ro cao, cần kiểm tra, xác minh và xử lý nghiêm.
GS, TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, gợi mở cách tiếp cận “90 + 9 + 1”: phần lớn doanh nghiệp tuân thủ, một nhóm nhỏ có thể mắc sai sót và chỉ một tỷ lệ rất nhỏ cố tình vi phạm. Vì vậy, quản lý không nên đánh đồng mọi trường hợp. Doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, nhưng cơ quan quản lý cũng cần theo dõi, nhắc nhở kịp thời, tránh để những nghĩa vụ nhỏ kéo dài nhiều năm rồi trở thành gánh nặng khi doanh nghiệp muốn rời thị trường.
Cách tiếp cận này cho thấy thuận lợi hóa thủ tục và giữ kỷ cương không phải hai mục tiêu đối lập. Doanh nghiệp tuân thủ tốt cần được xử lý nhanh, giảm chi phí; trong khi dữ liệu và công nghệ giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào những trường hợp có dấu hiệu mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc né tránh nghĩa vụ. Khi đó, mức độ kiểm tra được quyết định bởi rủi ro thực tế, thay vì áp một quy trình nặng như nhau cho tất cả.
Cải cách vì thế cũng cần được đo bằng những chỉ số thực chất hơn. Không chỉ là có bao nhiêu doanh nghiệp thành lập mới, mà còn là mất bao lâu để một doanh nghiệp tuân thủ hoàn tất thủ tục rời thị trường, bao nhiêu hồ sơ được xử lý đúng hạn, bao nhiêu hồ sơ tồn đọng mới phát sinh và tỷ lệ vi phạm được phát hiện từ nhóm rủi ro cao. Khi các chỉ số này được công khai, áp lực cải thiện sẽ không chỉ đặt lên doanh nghiệp mà còn đặt lên chính chất lượng phục vụ của bộ máy quản lý.
Tựu trung lại, một môi trường kinh doanh tốt không chỉ giúp doanh nghiệp được thành lập thuận lợi, mà còn bảo đảm khi không còn khả năng hoặc nhu cầu tiếp tục thì có thể rời thị trường với chi phí hợp lý sau khi hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ.