Đàn đá Đắk Sơn - Bảo vật mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa

Đàn đá Đắk Sơn là hiện vật gốc có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, mang tính độc bản, độc đáo điển hình. Với niên đại xác thực, được chế tác tại chỗ và có nguồn gốc bản địa, đàn đá không chỉ sở hữu giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc mà còn là một sưu tập nhạc cụ tiêu biểu và cổ xưa nhất.

Sưu tập Đàn đá Đắk Sơn đang được trưng bày, lưu giữ, bảo vệ, bảo quản tốt theo quy trình, quy định tại Bảo tàng tỉnh Đắk Nông.
Sưu tập Đàn đá Đắk Sơn đang được trưng bày, lưu giữ, bảo vệ, bảo quản tốt theo quy trình, quy định tại Bảo tàng tỉnh Đắk Nông.

Sưu tập Đàn đá Đắk Sơn được phát hiện ngẫu nhiên trong lòng đất khi người dân đào hố trồng tiêu để canh tác nông nghiệp, ở độ sâu từ 50 đến 90 cm, tại thôn Đắk Sơn, xã Nam Xuân, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông vào năm 2014. Ngay sau đó, Bảo tàng tỉnh Đắk Nông đã tiến hành khảo sát địa điểm phát hiện đàn đá và phối hợp với Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh) giám định khảo cổ học, đo tần số âm thanh; tiến hành thăm dò, khai quật di tích để xác định mối liên hệ của sưu tập với di tích Đắk Sơn và hoàn tất hồ sơ cho sưu tập Đàn đá Đắk Sơn. Năm 2024, Đàn đá Đắk Sơn được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia tại Quyết định số 1712/QĐ- TTg, ngày 31/12/2024. Hiện nay, sưu tập Đàn đá Đắk Sơn đang được lưu giữ, bảo vệ, bảo quản tốt theo quy trình, quy định tại Bảo tàng tỉnh Đắk Nông.

Sưu tập Đàn đá Đắk Sơn gồm 16 thanh đàn đá, trong đó có 11 thanh nguyên vẹn, 5 thanh gần nguyên vẹn (4 thanh gãy đôi và 1 thanh gãy ba). Những thanh gãy có thể gắn, chắp nguyên dạng và đủ điều kiện để nghiên cứu loại hình về kỹ thuật chế tác, thực hiện các chỉ số đo đạc về trọng lượng, chỉ số độ dài, rộng và dày. Trên toàn bộ bề mặt các thanh đàn, đoạn đều đã phủ lớp patin.

Kết quả nghiên cứu về kích thước, trọng lượng từng thanh đá trong sưu tập cho thấy các thanh Đàn đá Đắk Sơn có chiều dài trung bình 50 đến 55 cm, trong đó thanh đá dài nhất là 81 cm, thanh đá ngắn nhất là 32 cm; chiều rộng trung bình của các thanh khoảng 9,5 đến 10 cm; dày trung bình 2,5 cm; trọng lượng trung bình 3,5 kg. Các thanh đàn đá đều được chế tác từ loại đá rhyolite (đá phiến biến chất), khi gõ bằng vật cứng với một lực nhất định đều cho âm thanh ngân và vang xa, trong trẻo, âm sắc đanh gọn, giữa các thanh đá có độ trầm bổng khác nhau. Bên cạnh đó, trên bề mặt các thanh đá lớp áo ngoài (lớp patin được hình thành từ quá trình phong hóa) khá giống nhau có màu xám tro, xám vàng, bên trong lõi đá (quan sát các thanh bị vỡ, sứt mẻ) có màu đen như sừng, trên bề mặt đá có những chỗ còn lộ ra thớ xiên theo đường thẳng hoặc những mặt khá phẳng. Đồng thời, kiểm tra các lõi đá có thể ghi nhận cấu trúc đá không bở rời như loại đá phiến sơ cấp mà là loại đá phiến khá chặt, đó chính là hiện tượng biến chất do tác động địa vật lý tạo nên và được các nhà khoa học xác định là “đá phiến biến chất”.

Bảo tàng tỉnh Đắk Nông phối hợp với Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ tổ chức Hội đồng giám định và đưa ra kết luận về nhiều phương diện. Căn cứ vào kỹ thuật chế tác và tần số âm thanh, các nhà khoa học khẳng định Đàn đá Đắk Sơn thuộc truyền thống đàn đá N'Dut Liêng Krak, là bộ sưu tập đàn đá cổ có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 đến 3.000 năm. Sưu tập Đàn đá Đắk Sơn có những giá trị đặc biệt về lịch sử và văn hóa.

Sưu tập Đàn đá Đắk Sơn là tư liệu vật thật, sống động, giúp các nhà khoa học nhận thức một cách cơ bản, đầy đủ về loại hình di vật này và có thể biết chính xác về niên biểu sáng chế, phương thức sử dụng đàn đá cổ nhất Việt Nam thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới đến sơ kỳ kim khí ở Tây Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung. Sưu tập Đàn đá Đắk Sơn là minh chứng cho đời sống văn hóa tinh thần đa dạng, phong phú của cư dân bản địa tỉnh Đắk Nông; mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, có nguồn gốc bản địa, được sản xuất tại chỗ trên vùng đất Tây Nguyên thời tiền sử.

Cho đến ngày nay, đàn đá vẫn là một loại hình nhạc cụ quý hiếm còn được lưu truyền và sử dụng trong dân gian. Đây vừa là những nhạc cụ, cũng là những vật biểu trưng mang tính nghi lễ trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Nông và khu vực Tây Nguyên.

Có thể bạn quan tâm

Các già làng chụm tay thực hiện nghi thức kết nghĩa anh em của đồng bào Ê Đê, xã Cư Jút, tỉnh Lâm Đồng.

Nghĩa tình Ê Đê bên dòng Sê-rê-pốk

Dọc theo dòng Sê-rê-pốk hùng vĩ, đồng bào dân tộc Ê Đê ở xã Cư Jút (Lâm Đồng) sinh sống chủ yếu tại buôn Buôr và buôn Trum. Tuy khác nhau về địa giới hành chính nhưng tình cảm đồng bào Ê Đê nơi đây vẫn luôn được gìn giữ, vun đắp qua nhiều thế hệ, trở thành một giá trị văn hóa đặc sắc.

Đôi vợ chồng trẻ cùng ăn, uống trong sự chúc phúc của dân làng.

Lời hẹn ước thiêng liêng

Trong không gian cồng chiêng ngân vang, lễ cưới truyền thống của người Gia Rai tại Gia Lai như một bức tranh sống động về tình yêu và trách nhiệm cộng đồng. Đây không chỉ là nghi thức hôn nhân, mà còn là minh chứng cho sức sống bền bỉ của văn hóa mẫu hệ Tây Nguyên.

Du khách lưu dấu khoảnh khắc trải nghiệm ga cổ Đà Lạt.

Độc đáo kiến trúc Ga Đà Lạt

Tọa lạc trên cao nguyên Lang Biang, Ga Đà Lạt là một công trình kiến trúc giàu giá trị nghệ thuật. Những mái ngói nhuốm màu thời gian, ba chóp mái tiếp nối nhau chạy suốt từ đỉnh xuống bờ mái đón ở lối vào sảnh chính.

Trên quê hương mới, phụ nữ người Sán Chỉ (Lâm Đồng) vẫn miệt mài bên khung dệt, với mong muốn bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc mình (Ảnh HỒ MAI)

Sắc chàm Sán Chỉ trên cao nguyên Lâm Đồng

Trải qua nhiều năm gắn bó trên quê hương mới, cộng đồng người Sán Chỉ (nhóm địa phương của dân tộc Sán Chay) ở Quảng Phú (Lâm Đồng) đã từng bước ổn định đời sống, kiên trì bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Không gian cư trú truyền thống của người Ê Đê gắn liền với các sinh hoạt cộng đồng.

Không gian cư trú truyền thống của người Ê Đê

Ở đại ngàn Tây Nguyên, người Ê Đê là một trong những dân tộc bản địa sinh sống lâu đời. Hình thức cư trú theo buôn làng cùng sự giao thoa giữa nhiều yếu tố văn hóa và sinh thái đã tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng người Ê Đê.

Phường Đông Gia Nghĩa (Lâm Đồng) tái hiện lễ mừng lúa mới của đồng bào Mnông.

Lễ mừng lúa mới của người Mnông

Lễ mừng lúa mới của đồng bào Mnông ở tỉnh Lâm Đồng từ lâu đã trở thành một sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc. Không chỉ đánh dấu mùa thu hoạch, lễ hội còn thể hiện niềm tin tâm linh, đạo lý biết ơn thiên nhiên và sự gắn kết bền chặt trong cộng đồng bon làng.

Đồng bào Ê Đê ở buôn Ky, phường Thành Nhất, tỉnh Đắk Lắk tái hiện phương thức sản xuất “chọc lỗ, tra hạt”.

Tái hiện phương thức sản xuất độc đáo của đồng bào Tây Nguyên

Hằng năm, khoảng cuối tháng 5, đầu tháng 6, khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu nặng hạt, đồng bào các dân tộc ở đại ngàn Tây Nguyên lại bước vào mùa vụ mới. Những hạt giống tuyển chọn từ mùa trước, đựng trong chiếc giỏ xinh xắn đeo bên hông người phụ nữ, đung đưa theo nhịp bước chân...

Múa sư tử mèo của người Tày, Nùng trong lễ hội đầu xuân tại xã Đắk Sắk, tỉnh Lâm Đồng (Ảnh HỒ MAI)

Sắc màu Tây Bắc giữa lòng Tây Nguyên

Giữa cao nguyên Lâm Đồng, mỗi độ xuân về, buôn làng của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng từ miền núi phía bắc di cư vào lại rộn ràng điệu múa sư tử mèo. Điệu múa lưu giữ hồn cốt văn hóa, gửi gắm ước vọng bình an, no đủ của cộng đồng nơi miền đất mới.

Già làng người Ê Đê ngồi kể chuyện về văn hóa cồng chiêng cho các cháu học sinh bên bếp lửa trong ngôi nhà dài truyền thống.

Ấm áp bếp lửa người Ê Đê

Từ bao đời nay, bếp lửa luôn gắn liền sinh hoạt hằng ngày và đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Ê Đê ở Tây Nguyên. Họ tin rằng, lửa chính là “vị thần” may mắn, chỉ cần ngọn lửa rực đỏ trong nhà gia đình sẽ luôn ấm no, hạnh phúc.

Công trình kiến trúc Trường cao đẳng Đà Lạt nổi bật trong sương

Độc đáo kiến trúc Trường cao đẳng Đà Lạt

Trường cao đẳng Đà Lạt được công nhận Di tích kiến trúc quốc gia năm 2001. Đây là một trong những công trình kiến trúc độc đáo, hiếm có, được Hiệp hội Kiến trúc quốc tế (UIA) vinh danh là một trong 1.000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới trong thế kỷ XX.

Đồng bào dân tộc Ba Na tổ chức lễ hội truyền thống tại không gian nhà rông văn hóa làng Kon Rơ Bang 2.

Nhà rông - biểu tượng ở làng Kon Rơ Bang 2

Nhà rông là thiết chế văn hóa truyền thống quan trọng của các dân tộc thiểu số ở phía tây Quảng Ngãi, đồng thời là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng và đời sống văn hóa.

Người phụ nữ Ê Đê bên bếp lửa ở gian cuối ngôi nhà dài trong giờ nấu ăn cho gia đình.

Dấu ấn mẫu hệ trong ngôi nhà dài Ê Đê

Với nét kiến trúc độc đáo, nhà dài từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng gắn liền với đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng và tâm linh của cộng đồng người Ê Đê ở Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên. Ngôi nhà dài không chỉ là nơi ở, mà còn là không gian gắn kết nhiều đời, mang đậm dấu ấn của chế độ mẫu hệ.

Ankroet là công trình thủy điện đầu tiên tại Việt Nam, nhà máy mang dáng dấp của biệt thự Pháp cổ.

Nhà máy thủy điện cổ nhất Việt Nam

Nằm giữa rừng thông xanh trên cao nguyên Lang Biang, bên hồ Đan Kia-Suối Vàng, thủy điện Ankroet (phường Lang Biang, Đà Lạt, Lâm Đồng) là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam.

Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí độc đáo của người Co tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian vùng Trường Sơn-Tây Nguyên.

Nghệ thuật trang trí cây nêu của người Co

Ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên, dân tộc Co cư trú lâu đời, có văn hóa rất riêng với lễ hội, những phương thức sinh hoạt, dấu ấn lịch sử. Cây nêu cùng nghệ thuật trang trí của người Co độc đáo, tinh túy, tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình dân gian ở khu vực Trường Sơn và vùng Tây Nguyên rộng lớn.

Tượng nhà mồ trưng bày tại Bảo tàng Đắk Lắk.

Nghệ thuật tạc tượng nhà mồ ở Tây Nguyên

Tượng gỗ dân gian là một loại hình văn hóa độc đáo liên quan nhiều nghi lễ và lễ hội của các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Gia Rai, Xơ Đăng… ở Tây Nguyên. Trong đó, tượng nhà mồ là biểu tượng tâm linh đặc sắc, thể hiện tình thương, tấm lòng của người sống đối với người đã khuất.

Các thiếu niên người Ê Đê ở Đắk Lắk biểu diễn diễn tấu Ching kram.

Ching kram-nhạc cụ độc đáo của người Ê Đê

Ching kram (còn gọi là chiêng tre) là một loại nhạc cụ truyền thống độc đáo gắn liền với đời sống văn hóa của người Ê Đê. Nếu cồng chiêng tượng trưng cho sức mạnh, niềm vui và nghi lễ linh thiêng thì Ching kram lại mang âm sắc dịu dàng, mộc mạc, gần gũi, như một tiếng nói riêng của thiên nhiên và tâm hồn con người.

Nét độc đáo trong lễ cưới của người Dao đỏ là cô dâu được nhà gái chủ động đưa sang nhà chồng trong trang phục truyền thống.

Bảo tồn văn hóa Dao đỏ ở Tây Nguyên

Trong không gian văn hóa đa sắc của Lâm Đồng, đồng bào Dao đỏ vẫn kiên trì gìn giữ những nghi lễ truyền thống như một cách khẳng định cội nguồn. Từ phong tục cưới hỏi độc đáo đến lễ cấp sắc thiêng liêng, mỗi nghi thức vừa đánh dấu bước ngoặt đời người, vừa thể hiện sức sống bền bỉ của bản sắc dân tộc.

Nghi lễ cúng bến nước của người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng.

Mạch sống của buôn làng Mnông

Ban mai, khi đại ngàn nam Tây Nguyên thức giấc, suối Đạ Đòr tinh khiết mang dòng nước mát lành đến với những buôn làng người Mnông ở xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng. Hôm nay, đồng bào Mnông tổ chức lễ cúng bến nước đầu nguồn, xin Yàng (thần) giữ cho dòng nước luôn đầy, cho mạch nước chảy mãi.

Tháp Yang Prong (Thần lớn) hay còn được người dân địa phương gọi là tháp Chàm Rừng xanh nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk.

Huyền bí tháp Chàm giữa lòng Tây Nguyên

Tháp Yang Prong (Thần lớn) còn được gọi là tháp Chàm Rừng xanh, nằm ở thôn 5, xã Ea Rốk, tỉnh Đắk Lắk là tháp Chàm duy nhất được tìm thấy còn nguyên vẹn trên vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ.

Điệu xoang vui tươi trong nhịp chiêng tại lễ cầu mùa của người M'Nông ở Lâm Đồng.

Lễ cầu mùa của người M’Nông

Tây Nguyên vào mùa khô, những chiếc lá pơ lang lả tả rơi nhường chỗ cho những chùm hoa đỏ rực, tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của mùa Xuân cao nguyên. Lễ cầu mùa (nhô ndah) của người M’Nông ở Lâm Đồng cũng diễn ra khi mùa vụ kết thúc, lúa đã đóng vào cót chất đầy trong kho.

Các nghệ nhân Cơ Ho ở xã Bảo Thuận, tỉnh Lâm Đồng trao truyền các làn điệu dân ca cho lớp trẻ.

Đi tìm điệu dân ca Cơ Ho

Muốn được hiểu thêm về dân ca của dân tộc Cơ Ho, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc điền dã về các vùng có đông cư dân của tộc người này cư trú. Từ trò chuyện với các nhạc sĩ, nghệ nhân, chúng tôi đã tạm phân loại các lối hát của tộc người này.

 Người Mnông vui uống rượu cần trong lễ dạm ngõ.

Độc đáo lễ dạm ngõ của người Mnông Prâng

Người Mnông gồm nhiều nhóm địa phương, như Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Noong, Mnông Prâng, là cư dân sinh sống lâu đời trên vùng đất Tây Nguyên. Với tín ngưỡng đa thần, từ khi sinh ra cho đến lúc về với thế giới bên kia, người Mnông trải qua nhiều nghi lễ, trong đó có lễ dạm ngõ, nghi lễ quan trọng phải tiến hành tốt đẹp mới được tổ chức lễ cưới.

Tiết mục biểu diễn của Công đoàn phường An Phú tham gia cuộc thi.

Hòa nhịp “Vũ điệu đại ngàn”

Cuộc thi “Công nhân Gia Lai hòa nhịp vũ điệu đại ngàn” vừa được phát động đã trở thành sân chơi văn hóa ý nghĩa, tạo sức lan tỏa rộng khắp. Qua những điệu múa dân gian, hình ảnh người công nhân hăng say lao động, gắn bó với truyền thống, khẳng định vai trò trong việc gìn giữ và phát huy giá trị tinh thần của núi rừng đại ngàn.