Câu chuyện từ một địa phương khó khăn
Trước thời điểm sáp nhập tỉnh và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, huyện Mèo Vạc (Hà Giang, nay là Tuyên Quang) thiếu giáo viên trầm trọng. Năm học 2022-2023 - năm đầu tiên học sinh lớp 3 học Chương trình giáo dục phổ thông 2018, trong đó môn tiếng Anh là môn học mới (trước đây tiếng Anh chỉ là môn học tự chọn ở tiểu học) nhưng Mèo Vạc chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh, trong khi có 76 lớp 3 với 2.609 học sinh. Nguồn tuyển giáo viên không có vì không có giáo viên trẻ nào muốn làm việc ở vùng khó khăn này. Khi đó, thầy Nguyễn Xuân Khang - Hiệu trưởng Trường phổ thông liên cấp Marie Curie (Hà Nội) đã nhận lời giúp đỡ bằng cách tuyển giáo viên tiếng Anh tại Hà Nội chuyên trách dạy trực tuyến cho học sinh Mèo Vạc. Dự án được chuẩn bị kỹ lưỡng từ tập huấn giáo viên đến giải pháp kỹ thuật. Ngoài dạy trực tuyến, giáo viên Hà Nội có các đợt trực tiếp lên Mèo Vạc. Sáng kiến này trong những năm đầu tiên nhanh chóng lan tỏa, nhiều trường học ở vùng thuận lợi cũng thực hiện các chương trình kết nối, dạy học trực tuyến cho Mèo Vạc và các địa phương khó khăn vùng núi phía bắc.
Tính đến tháng 5/2025, địa phương này đã có 2.500 học sinh hoàn thành chương trình tiểu học với sự hỗ trợ này. Nhưng cũng trong ba năm đó, Mèo Vạc mới chỉ bổ sung được thêm 4 giáo viên tiếng Anh, nâng tổng số lên 5 người cho 8.400 học sinh tiểu học. Vẫn thiếu nghiêm trọng.
Câu chuyện ở Mèo Vạc không hy hữu mà khá phổ biến ở các địa phương miền núi phía bắc. Lý do lớn nhất là không có nguồn tuyển. Các chính sách tạo nguồn, tuyển dụng và đãi ngộ chưa “chạm” được đến sự lựa chọn của những người trẻ.
Những năm sau này, nhà giáo Nguyễn Xuân Khang thực hiện một dự án khác: Cấp tiền đào tạo 33 giáo viên tiếng Anh là người địa phương với cam kết sau khi tốt nghiệp về Mèo Vạc dạy học. Theo tính toán, lần lượt từ năm 2025-2028, số sinh viên này sẽ ra nghề, trở về dạy học. Đây là sự giúp đỡ thiết thực, sát sườn, bù đắp việc thiếu giáo viên về lâu dài.
Câu chuyện ở Mèo Vạc đặt ra vấn đề, tại sao một cá nhân nhà giáo đầu tư thì “thông đồng bén giọt”, nhưng giải quyết bài toán giáo viên ở diện rộng hơn lại không làm được hoặc làm nhưng chưa hiệu quả và giải quyết được dứt điểm? Vì thực tế đã có quá nhiều rào cản, khó khăn từ chính sách tạo nguồn, tuyển dụng, đãi ngộ để thu hút và giữ chân giáo viên. Giải quyết vấn đề này không chỉ đòi hỏi các giải pháp đồng bộ mà còn cần những giải pháp đặc thù. Tuy nhiên, bài học nhỏ từ Mèo Vạc cũng cho thấy, nếu quyết tâm và giải quyết từng vấn đề từ trước mắt đến bền vững mới có thể nhìn thấy sự chuyển biến.
Khắc phục tình trạng thiếu nguồn tuyển
Tính đến năm 2025, nhiều địa phương báo cáo về Bộ Giáo dục và Đào tạo tình trạng không tuyển dụng hết chỉ tiêu được giao. Thiếu giáo viên, thiếu cả nguồn tuyển. Một lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo khu vực phía bắc chia sẻ: Tạo điều kiện cho con em vùng khó khăn đi học để quay về dạy học nhưng các em không đạt được yêu cầu đầu vào của các trường sư phạm. Cũng có những sinh viên đã hưởng chế độ hỗ trợ học phí, phí sinh hoạt và buộc phải tham gia tuyển dụng giáo viên tại tỉnh nhưng đã cố tình “đánh trượt” mình để bị loại, tránh được chuyện đền tiền. Ngoài ra, còn những vướng mắc khác trong các quy định về chuẩn trình độ với giáo viên một số môn đặc thù là tin học, nghệ thuật, giáo dục thể chất nên khó thu hút.
Nghị định số 116/2020/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí, chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm với nhiều kỳ vọng sẽ giải quyết tốt câu chuyện “thu hút người giỏi vào nghề sư phạm” và khắc phục tình trạng thiếu nguồn tuyển, nhưng từ khi thực hiện liên tục vấp phải nhiều vướng mắc. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, những năm đầu triển khai nghị định này chỉ có 24,3% trong số gần 31 nghìn sinh viên sư phạm được các địa phương đặt hàng, giao nhiệm vụ. Song, cũng chỉ có 23/63 tỉnh, thành phố (trước sáp nhập) thực hiện việc giao nhiệm vụ, đặt hàng giáo viên. Tình trạng “nợ tiền hỗ trợ sinh hoạt phí” đối với sinh viên sư phạm cũng phổ biến.
Năm 2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 116. Theo đó, sinh viên sư phạm được hỗ trợ kinh phí bằng hình thức dự toán theo phân cấp ngân sách. Trường hợp địa phương có nhu cầu giáo viên thì thực hiện theo hình thức giao nhiệm vụ, đặt hàng cho cơ sở đào tạo trực thuộc, bỏ hình thức đấu thầu đào tạo giáo viên. Như vậy, các cơ sở đào tạo sinh viên sư phạm và sinh viên sẽ được cấp kinh phí kịp thời, đầy đủ hơn.
“Ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên”
Thiếu giáo viên kéo dài khi triển khai chương trình mới buộc nhiều tỉnh miền núi phía bắc phải có giải pháp tình thế. Khái niệm “giáo viên biệt phái” cũng xuất hiện trong bối cảnh này. Cô Hoàng Thị Bảy, giáo viên dạy Toán - Trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học & THCS Mồ Dề (Mù Cang Chải - Lào Cai) từng là một giáo viên biệt phái lên trường mới cách trường cũ 35 km. Tương tự, cô Lê Thị Thanh Huyền, giáo viên Trường THCS Yên Bình (Lào Cai) cũng có thời gian biệt phái cách nơi cũ 92 km. Các thầy, cô biệt phái phải xa nhà, khắc phục nhiều khó khăn để đảm nhiệm công việc. Ở nhiều địa bàn, giáo viên phải dạy liên trường, thậm chí liên cấp, chủ yếu là giáo viên dạy các môn tiếng Anh, tin học, nghệ thuật, giáo dục thể chất. Thực tế này kéo dài 1-2 năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có các hướng dẫn để tháo gỡ khó khăn trong việc chi trả thù lao và các quy định liên quan cho “giáo viên biệt phái” và dạy liên trường.
Mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương phối hợp Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương khẩn trương đề xuất phương án biên chế, quản lý biên chế, chế độ, chính sách cho ngành giáo dục và đào tạo; linh hoạt điều động nhân sự, chấm dứt tình trạng thừa thiếu cục bộ, bảo đảm nguyên tắc “ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên”. Định hướng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề cập là nghiên cứu chuyển đổi cơ chế giao chỉ tiêu, biên chế “cứng” cho từng trường sang áp dụng biên chế linh hoạt, cho phép luân chuyển giáo viên giữa các trường trong cùng địa bàn.
Bộ Nội vụ có nhiệm vụ chủ trì phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu việc phân cấp giao tổng biên chế cho địa phương tự chủ tuyển dụng và sử dụng dựa trên định mức thực tế học sinh/lớp. Đồng thời phối hợp với các địa phương khẩn trương rà soát thực trạng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở cấp xã và đề xuất phương án xử lý, hoàn thành trong quý III này. Đây là hướng thay đổi từ quản lý “đầu người” sang quản lý và điều chỉnh linh hoạt theo nhu cầu thực tế.
Từ năm 2026, việc tiếp nhận đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân viên trong cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh thuộc thẩm quyền của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo. Cục trưởng Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Vũ Minh Đức chia sẻ, những năm qua, việc tuyển dụng giáo viên phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phố và thường được giao cho Sở Nội vụ chủ trì. Việc này dẫn tới một số bất cập khi ngành giáo dục lại không được chủ động, việc tuyển dụng giáo viên không sát với nhu cầu thực tiễn dạy học ở các nhà trường. Từ thực tế này, Bộ đã đề xuất giao quyền chủ động cho ngành giáo dục trong tuyển dụng, sử dụng nhà giáo.
Trong Kết luận về công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ, cho ý kiến đối với đề án cải cách chính sách tiền lương, sớm xếp lương nhà giáo ở mức cao nhất trong thang bậc lương sự nghiệp. Trước đó, Nghị định số 182/2026/NĐ-CP đã nâng phụ cấp ưu đãi nghề của một số nhóm nhà giáo từ 35% lên 45%, 50% lên 60% và 70% lên 80% - điểm mới đáng chú ý nhất trong đợt cải cách chính sách đãi ngộ lần này. Ngoài ra, giáo viên tiếp tục được hưởng phụ cấp chức vụ, trách nhiệm, tiền dạy thêm giờ (được điều chỉnh mức tăng) và các khoản hỗ trợ khác.