Bài 5: Phá điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển vùng

Bài 5: Phá điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển vùng

Những chương trình, kế hoạch triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW đang được các địa phương cụ thể hóa. Nhưng từ những tuyến đường chưa thông suốt đến bài toán thiếu nhân lực, nguồn vốn và cơ chế phối hợp, nhiều địa phương đang gặp những điểm nghẽn vượt khỏi phạm vi một tỉnh, thành phố. Các kiến nghị cụ thể về điều phối, phân cấp và huy động nguồn lực đặt ra yêu cầu sớm đưa Nghị quyết 27-NQ/TW vào thực tiễn.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Với công trình liên vùng, phải chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó; cùng bàn, cùng quyết định, cùng góp nguồn lực, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi”.

Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy phát triển riêng lẻ sang phối hợp thực chất giữa các địa phương, từ những thỏa thuận hợp tác sang cơ chế cùng quyết định, phân bổ nguồn lực và chia sẻ trách nhiệm, lợi ích. Bởi trên thực tế, không ít công trình có ý nghĩa liên vùng vẫn gặp khó khăn khi triển khai do nguồn lực đầu tư phân tán, thiếu sự đồng bộ về hạ tầng và chưa có cơ chế phối hợp đủ hiệu quả.

Từ Khu kinh tế Vân Phong ở Khánh Hòa đến các hành lang kinh tế Đông-Tây tại Quảng Trị, Hà Tĩnh hay những đầu mối giao thương quốc tế tại Lào Cai, mỗi địa phương có lợi thế và nhu cầu phát triển khác nhau, nhưng đều phải giải quyết những vấn đề vượt khỏi phạm vi địa giới hành chính. Không chỉ thiếu vốn, nhiều nơi còn gặp khó khăn về nhân lực chất lượng cao, khả năng kết nối doanh nghiệp với cơ sở đào tạo và những quy định, cơ chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới.

Đó là những vấn đề được lãnh đạo nhiều tỉnh, thành phố phản ánh khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về việc triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Hạ tầng thiếu đồng bộ, nguồn lực đầu tư còn phân tán

Tại Khu kinh tế Vân Phong (Khánh Hòa), cảng container đã có trong quy hoạch nhưng việc thu hút nhà đầu tư vẫn gặp khó khăn do thiếu nguồn hàng ổn định. Trong khi đó, các khu công nghiệp muốn thu hút doanh nghiệp sản xuất lại cần hạ tầng cảng biển và dịch vụ logistics thuận lợi để giảm chi phí vận chuyển.

Theo đồng chí Trần Minh Chiến, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh Khánh Hòa, cùng với bài toán cảng biển, hệ thống giao thông, điện, nước và hạ tầng phục vụ công nghiệp cũng cần được đầu tư đồng bộ. Những tuyến đường trước đây chủ yếu phục vụ đi lại, du lịch nay phải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, thiết bị phục vụ các dự án công nghiệp, đóng tàu quy mô lớn.

“Khi chuyển từ định hướng chủ yếu phục vụ du lịch, dịch vụ sang thu hút các dự án công nghiệp, đóng tàu và logistics quy mô lớn, hệ thống giao thông phải đáp ứng những yêu cầu mới về vận chuyển hàng hóa, máy móc, thiết bị. Cùng với đó, cảng container, hệ thống điện, nước, hạ tầng môi trường và các dịch vụ hỗ trợ cần được phát triển đồng bộ để tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư”, Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh Khánh Hòa nói.

Bài toán ấy cũng hiện diện tại Khu công nghiệp Dốc Đá Trắng, nơi đang được chuẩn bị để đón những dự án sản xuất mới.

Dẫn chúng tôi đi thực địa Khu công nghiệp Dốc Đá Trắng, quy mô 288ha, tổng vốn đầu tư hơn 1.807 tỷ đồng, ông Phạm Văn Thái, Trưởng Ban Quản lý Khu công nghiệp, trăn trở: Để khu công nghiệp phát huy hiệu quả, ngoài hoàn thiện hạ tầng bên trong, cần bảo đảm giao thông đối ngoại, điểm đấu nối, nguồn điện, nước và dịch vụ logistics. Theo thông tin từ dự án, công tác san nền đợt đầu trên diện tích 60ha đã đạt khoảng 98%. Đây là tiến độ chuẩn bị hạ tầng của dự án, chưa đồng nghĩa với việc khu công nghiệp đã sẵn sàng vận hành toàn bộ.

Theo ông Thái, lợi thế vị trí và khả năng kết nối với mạng lưới giao thông, các trung tâm kinh tế, dịch vụ và logistics có thể giúp Dốc Đá Trắng trở thành điểm đến đầu tư công nghiệp, góp phần khai thác tiềm năng Khu kinh tế Vân Phong. Tuy nhiên, lợi thế ấy chỉ phát huy khi các điều kiện tiếp nhận nhà đầu tư được chuẩn bị đầy đủ.

Để khu công nghiệp sớm thu hút nhà đầu tư, ông Thái cho rằng cần sự phối hợp, hỗ trợ của cơ quan quản lý và chính quyền địa phương trong giải quyết thủ tục về quy hoạch, đất đai, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng và đấu nối hạ tầng.

Từ các cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, La Lay, Cha Lo ở phía tây đến hệ thống cảng biển Hòn La, Mỹ Thủy ở phía đông, Quảng Trị có lợi thế để phát triển các hành lang kinh tế Đông-Tây, kết nối thương mại xuyên biên giới với vận tải biển và thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để những lợi thế ấy trở thành năng lực vận chuyển, trung chuyển hàng hóa và phát triển dịch vụ, các tuyến giao thông kết nối phải được đầu tư đồng bộ.

Theo đồng chí Hoàng Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, một số dự án giao thông trục ngang Đông-Tây còn chậm triển khai do thiếu nguồn lực đầu tư. Địa hình chia cắt càng khiến việc kết nối giữa không gian ven biển phía đông với khu vực biên giới phía tây gặp nhiều khó khăn.

Không chỉ giao thông, hạ tầng phục vụ các vùng nguyên liệu còn phân tán, trong khi các chuỗi dịch vụ hỗ trợ, công nghiệp chế biến sâu và logistics quy mô vùng chưa hình thành đầy đủ.

Quảng Trị đang thúc đẩy liên kết công nghiệp với Hà Tĩnh, kết nối hệ thống cảng biển và phát triển các chuỗi dịch vụ, logistics xuyên biên giới. Nhưng theo ông Hoàng Nam, muốn hình thành những chuỗi liên kết thực chất, việc hoàn thiện các tuyến giao thông và hạ tầng hỗ trợ vẫn là yêu cầu có ý nghĩa quyết định.

Tại Hà Tĩnh, Khu kinh tế Vũng Áng cùng hệ thống cảng Vũng Áng-Sơn Dương đã tạo nền tảng quan trọng cho phát triển công nghiệp, năng lượng và dịch vụ cảng biển. Tuy nhiên, hạ tầng giao thông, logistics, điện và các công trình kỹ thuật thiết yếu chưa đồng bộ với nhu cầu phát triển.

Theo đồng chí Thiều Đình Long, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh, địa phương kiến nghị nghiên cứu, xác định lộ trình đầu tư các tuyến cao tốc Hà Tĩnh-Cầu Treo, Vũng Áng-Cha Lo và đường sắt Viêng Chăn-Vũng Áng theo quy hoạch, phù hợp khả năng cân đối nguồn lực.

Cùng với đó là yêu cầu phát triển trung tâm logistics, cảng cạn, vận tải đa phương thức và nâng cấp hệ thống lưới điện phục vụ các khu công nghiệp trọng điểm.

Gần 3 tỷ USD giá trị giao thương trong 9 tháng năm 2026, tăng 34,83% so với cùng kỳ, cho thấy quy mô hoạt động thương mại qua địa bàn Lào Cai tiếp tục mở rộng. Khu kinh tế cửa khẩu đã thu hút hơn 40 dự án kho bãi, trung chuyển, với tổng năng lực thông qua hơn 3 triệu tấn hàng hóa mỗi năm.

Thế nhưng, phía sau những con số tăng trưởng ấy vẫn còn những điểm nghẽn trong tổ chức vận tải và dịch vụ logistics.

Theo đồng chí Nguyễn Thành Sinh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, sự khác biệt về khổ đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc khiến hàng hóa vận chuyển qua biên giới phải thực hiện thêm công đoạn sang tải, làm tăng thời gian và chi phí. Trong khi đó, hệ thống kho lạnh, kho mát, trung tâm logistics tích hợp và năng lực kiểm nghiệm, kiểm dịch vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.

“Lào Cai xác định ưu tiên các công trình kết nối khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp và vùng nguyên liệu với các đầu mối giao thông quan trọng, trong đó có tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng và việc nâng cấp cao tốc Nội Bài-Lào Cai”, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai Nguyễn Thành Sinh chia sẻ.

Thiếu nhân lực chất lượng cao, khó nâng giá trị tăng trưởng

Bên cạnh hạ tầng và thể chế, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành một trong những vấn đề được nhiều địa phương quan tâm khi chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, điểm nghẽn không chỉ nằm ở tình trạng thiếu lao động có trình độ, mà còn ở khoảng cách giữa đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp, giữa nơi tập trung nguồn lực tri thức với địa bàn cần chuyên gia, cũng như khả năng tạo dựng môi trường để người có năng lực làm việc và cống hiến lâu dài.

Tại Hà Tĩnh, sự hình thành của các dự án công nghiệp, năng lượng và cảng biển quy mô lớn đặt ra nhu cầu ngày càng cao đối với lao động kỹ thuật. Theo Sở Tài chính tỉnh Hà Tĩnh, nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao còn thiếu, sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ. Để tháo gỡ, Hà Tĩnh xác định cần kết nối thực chất giữa doanh nghiệp đầu tàu với doanh nghiệp trong nước, nắm bắt nhu cầu nguyên liệu, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật, từ đó tạo điều kiện để doanh nghiệp địa phương chuẩn bị năng lực tham gia chuỗi cung ứng.

Tỉnh cũng đề xuất gắn đào tạo nhân lực với nhu cầu thực tế của dự án và doanh nghiệp; tăng cường hợp tác giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trường đại học và doanh nghiệp trong đào tạo, tuyển dụng. Những lĩnh vực được ưu tiên gồm cơ khí, hàn, điện công nghiệp, điện-điện tử, tự động hóa, vận hành và bảo trì thiết bị, logistics. Doanh nghiệp cần tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tiếp nhận thực hành, đào tạo tại chỗ và đào tạo lại lực lượng lao động hiện có.

Tại Hải Phòng, quy mô thu hút đầu tư lớn đang tạo ra nhu cầu nhân lực ngày càng cao trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ hiện đại. Theo số liệu thành phố cung cấp, đến hết tháng 9/2026, Hải Phòng có khoảng 1.889 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 53,9 tỷ USD. Nhu cầu nhân lực trong các lĩnh vực tự động hóa, điện tử, cơ khí chính xác, sản xuất thông minh, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và logistics quốc tế đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo.

“Thành phố kiến nghị tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp theo cơ chế doanh nghiệp đặt hàng, nhà trường đào tạo, chính quyền hỗ trợ; đồng thời khuyến khích phát triển các trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực tại chỗ”, đồng chí Nguyễn Ngọc Tú, Giám đốc Sở Tài chính Hải Phòng chia sẻ.

Thái Nguyên có lợi thế là trung tâm giáo dục-đào tạo của vùng; riêng Đại học Thái Nguyên mỗi năm có khoảng 11.000-12.000 sinh viên tốt nghiệp. Tuy vậy, tỉnh phải cạnh tranh trực tiếp về nhân lực chất lượng cao với Hà Nội và các trung tâm công nghiệp, công nghệ lớn.

Theo đồng chí Nguyễn Linh, tỉnh đang định hướng phát huy vai trò của Đại học Thái Nguyên và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; tăng thời lượng thực hành, thực tập, đào tạo theo đặt hàng và khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, tuyển dụng sinh viên. Thái Nguyên cũng đặt vấn đề xây dựng cơ sở dữ liệu nhân lực để dự báo nhu cầu, định hướng đào tạo; đồng thời kiến nghị có cơ chế điều phối đào tạo và sử dụng nhân lực ở cấp vùng, để các địa phương bổ trợ cho nhau thay vì cạnh tranh nguồn lao động.

“Về lâu dài, giữ chân nhân lực không thể chỉ dựa vào chính sách đãi ngộ, mà cần tạo việc làm chất lượng cao, cơ hội phát triển nghề nghiệp, môi trường nghiên cứu, tiếp cận công nghệ mới và điều kiện sống phù hợp”, đồng chí Nguyễn Linh chia sẻ.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Đinh Vĩnh Cường, Chủ tịch Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tập đoàn 365 Group, cho rằng, thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao tại các địa phương không thể chỉ dựa vào tiền lương, nhà ở hay những chính sách ưu đãi ban đầu. Điều quan trọng hơn là phải tạo được môi trường để người giỏi phát huy chuyên môn và nhìn thấy cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài.

Từng học tập, làm việc tại Nhật Bản, hiện ông Cường cùng doanh nghiệp nghiên cứu các giải pháp xe tự hành cấp độ 4, phương tiện vận chuyển hàng hóa thông minh và logistics thông minh. Trong quá trình tìm hiểu khả năng ứng dụng công nghệ tại Đà Nẵng, Khánh Hòa và Phú Quốc, doanh nghiệp nhận thấy việc đưa công nghệ mới về địa phương không chỉ đòi hỏi hạ tầng phù hợp, mà còn cần đội ngũ kỹ thuật có khả năng tiếp nhận, vận hành và phát triển công nghệ.

“Theo tôi, muốn giữ chân người tài, trước hết phải tạo ra những công việc xứng đáng với tài năng của họ”, ông Đinh Vĩnh Cường nhấn mạnh.

Từ thực tế đó, ông cho rằng các địa phương cần kết nối chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu để đào tạo nhân lực theo nhu cầu thực tế; đồng thời tạo điều kiện cho chuyên gia, kỹ sư tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển cụ thể, có mục tiêu và cơ chế đánh giá kết quả rõ ràng.

Tại Khánh Hòa, yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, logistics, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo đặt ra bài toán chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngày 27/8/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 29/2026/NQ-HĐND về chính sách thu hút, phát triển nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, có hiệu lực từ ngày 7/9/2026. Tỉnh cũng cho phép ký hợp đồng lao động có thời hạn hoặc thuê khoán chuyên môn, công việc, sản phẩm; với hợp đồng làm việc theo thời gian, mức chi có thể lên tới 100 triệu đồng/người/tháng, tùy yêu cầu và tính chất nhiệm vụ. Cách làm này mở thêm khả năng tiếp cận chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực công nghệ cao mà không nhất thiết yêu cầu họ chuyển hẳn nơi cư trú hoặc trở thành công chức, viên chức.

Ở cấp độ hệ thống, thời gian gần đây, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã được triển khai theo hướng tập trung hơn vào các ngành STEM, khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; hệ thống cơ chế, chính sách, chuẩn chương trình và các chương trình, đề án trọng điểm từng bước được hoàn thiện; sự phối hợp giữa cơ sở giáo dục đại học với các bộ, ngành và doanh nghiệp ngày càng được tăng cường. Các kết quả về chương trình đào tạo tài năng, vi mạch bán dẫn, trung tâm đào tạo xuất sắc và quy mô tuyển sinh STEM bước đầu tạo nền tảng mở rộng nguồn nhân lực cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành và triển khai các chuẩn chương trình đào tạo phục vụ phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực ưu tiên: Chuẩn chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng thuộc các lĩnh vực STEM; chuẩn chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành điện hạt nhân, đường sắt; triển khai các chuẩn chương trình đào tạo về vi mạch bán dẫn. Trên cơ sở này, các cơ sở đào tạo chủ động xây dựng, cập nhật chương trình đào tạo trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, công nghệ số, dữ liệu lớn, an toàn thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mới và các công nghệ chiến lược; đồng thời tăng cường đào tạo liên ngành, thực hành, nghiên cứu và gắn kết với nhu cầu của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dữ liệu cung-cầu nhân lực giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo chưa được kết nối, chia sẻ đồng bộ; sự tham gia của doanh nghiệp trong dự báo nhu cầu còn chưa thường xuyên. Quy mô đào tạo theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cũng còn hạn chế. Thực tế này cho thấy, mở rộng quy mô đào tạo mới là một phần của bài toán; yêu cầu quan trọng hơn là gắn cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực và định hướng phát triển của từng vùng.

Cùng với việc nâng cao năng lực đào tạo trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết nhiều chính sách đang được triển khai để thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài và hỗ trợ đào tạo công dân Việt Nam ở nước ngoài trong những lĩnh vực cần nhân lực trình độ cao. Đây là một trong những hướng cụ thể hóa nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đang xây dựng Chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên và những lĩnh vực có nhu cầu nhân lực trình độ cao phục vụ phát triển đất nước.

Để đẩy mạnh đào tạo theo đặt hàng và gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu sử dụng lao động, nhất là trong các ngành công nghệ mới, các cơ sở giáo dục đại học được thúc đẩy rà soát năng lực đào tạo, nhu cầu đầu tư, đội ngũ giảng viên, chương trình và phương án tuyển sinh; đồng thời phối hợp với bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để xác định nhu cầu nhân lực. Nhiều trường đã tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, thực tập, nghiên cứu, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng và tuyển dụng sau tốt nghiệp. Vấn đề đặt ra là những hoạt động ấy cần được kết nối thành cơ chế thường xuyên, có dự báo nhu cầu và trách nhiệm tham gia rõ ràng của từng bên.

Gỡ nút thắt thể chế, mở đường cho liên kết vùng

Các địa phương không chỉ kiến nghị bổ sung vốn đầu tư, mà còn đề xuất những cơ chế khác nhau để tháo gỡ trở ngại trong tổ chức phát triển vùng. Với mô hình kinh tế mới, cần hành lang pháp lý phù hợp; với công trình phục vụ nhiều tỉnh, thành phố, cần công cụ huy động và chia sẻ nguồn lực; với khu kinh tế đang chuyển sang các ngành sản xuất quy mô lớn, cần chính sách đặc thù theo kịp yêu cầu thực tế.

Từ thực tiễn phát triển các hành lang kinh tế Đông-Tây, đồng chí Hoàng Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cho biết: “Để chủ trương của Nghị quyết 27-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, từ thực tiễn địa phương, Quảng Trị tập trung kiến nghị Trung ương xem xét, ban hành 5 cơ chế, chính sách đặc thù”.

Trong đó, kiến nghị đầu tiên của Quảng Trị là sớm phê duyệt, ban hành khung pháp lý vượt trội cho các mô hình kinh tế mới, cụ thể là Đề án thí điểm Khu thương mại tự do tỉnh Quảng Trị và Đề án Khu kinh tế-thương mại qua biên giới chung Lao Bảo (Việt Nam)-Đensavẳn (Lào). Đây là những mô hình được kỳ vọng tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ logistics, thương mại xuyên biên giới và khai thác lợi thế kết nối giữa các cảng biển miền trung với thị trường Lào, Đông Bắc Thái Lan.

Cùng với cơ chế chính sách, Quảng Trị đề nghị Trung ương ưu tiên ngân sách, vốn hỗ trợ phát triển chính thức và nguồn lực đầu tư theo phương thức đối tác công tư cho những tuyến giao thông có ý nghĩa liên vùng, gồm cao tốc Cam Lộ-Lao Bảo, Quốc lộ 15D kết nối cửa khẩu La Lay với cảng Mỹ Thủy, Quốc lộ 12A kết nối cảng Hòn La với cửa khẩu Cha Lo. Tỉnh cũng kiến nghị đẩy nhanh đầu tư hệ thống truyền tải điện 500 kV, 220 kV để giải tỏa công suất các nguồn điện phía tây và tăng khả năng tiếp nhận điện từ Lào.

Đặc biệt, Quảng Trị đề xuất hoàn thiện cơ chế điều phối vùng theo hướng có tính ràng buộc, khắc phục tình trạng liên kết hình thức. Theo ông Hoàng Nam, cần “hoàn thiện thể chế chính sách, cơ chế phối hợp của vùng thật sự mạnh, có tính ràng buộc pháp lý cao, khắc phục tình trạng liên kết hình thức, cục bộ”.

Không chỉ kiến nghị Trung ương, Quảng Trị cũng đang xúc tiến tổ chức Hội nghị hợp tác, liên kết vùng giữa Quảng Trị, Hà Tĩnh và thành phố Huế giai đoạn 2026-2030, hướng tới xác định những lĩnh vực phối hợp và chương trình phát triển có tính bổ trợ giữa các địa phương.

Không chỉ kiến nghị tháo gỡ những vướng mắc về thể chế, Quảng Trị cũng đang đổi mới phương thức điều hành. Từ đầu tháng 10/2026, tỉnh triển khai cơ chế “Luồng xanh 24 giờ” nhằm rút ngắn thời gian xử lý công việc; đồng thời đặt mục tiêu cắt giảm 60% thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Những bước đi này cho thấy nỗ lực chuyển từ yêu cầu cải cách chung sang các nhiệm vụ có thời hạn và trách nhiệm thực hiện cụ thể.

Một hướng tháo gỡ khác được Đà Nẵng đặt ra là tạo công cụ huy động vốn cho các dự án có tác động vượt khỏi địa giới hành chính. Khi một công trình phục vụ cả vùng nhưng chi phí chuẩn bị và triển khai lại tập trung ở một địa phương, khả năng cân đối ngân sách riêng lẻ có thể trở thành rào cản đối với tiến độ đầu tư.

Đồng chí Hồ Kỳ Minh, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cho biết, nhu cầu vốn thực hiện các chương trình, nhiệm vụ phát triển được thành phố xác định khoảng 40.000 tỷ đồng, trong khi khả năng cân đối ngân sách mới đạt 7.718 tỷ đồng. Khoảng cách lớn giữa nhu cầu và nguồn lực cho thấy cần có những phương thức huy động vốn và cơ chế phối hợp đầu tư phù hợp hơn.

Từ khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng cân đối, Đà Nẵng đề xuất Trung ương nghiên cứu thành lập Quỹ đầu tư hạ tầng liên vùng; đồng thời hướng dẫn cơ chế tài chính để các địa phương cùng quyết định, đóng góp, chịu trách nhiệm và hưởng lợi từ công trình kết nối. Thành phố cũng kiến nghị đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Hội đồng điều phối vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Điểm cốt lõi của đề xuất không phải hình thành thêm một đầu mối hành chính, mà là tạo cơ chế để thống nhất thứ tự ưu tiên, phương thức góp vốn và trách nhiệm triển khai đối với những dự án mà một địa phương khó tự thực hiện.

Từ thực tiễn thu hút đầu tư tại Khu kinh tế Vân Phong, Khánh Hòa lại đặt vấn đề rà soát, hoàn thiện chính sách đặc thù để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Đồng chí Trần Minh Chiến, Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh Khánh Hòa cho rằng, cùng với việc đầu tư đồng bộ hạ tầng, cần tiếp tục xem xét những cơ chế, chính sách đã được ban hành cho địa phương. Nghị quyết số 55/2022/QH15 của Quốc hội từng tạo ra những cơ chế vượt trội tại thời điểm ban hành, nhưng trước những thay đổi của hệ thống pháp luật và yêu cầu phát triển mới, cần rà soát để xác định những nội dung còn phù hợp, những vấn đề cần bổ sung, điều chỉnh.

Yêu cầu này gắn trực tiếp với việc thu hút các dự án công nghiệp, cảng biển và logistics tại Vân Phong. Khi quy mô và tính chất các dự án thay đổi, những vấn đề về giao thông đối ngoại, đấu nối hạ tầng, đất đai, năng lượng và thủ tục đầu tư cũng cần được giải quyết đồng bộ. Nếu chỉ hoàn thiện hạ tầng bên trong từng khu công nghiệp mà chưa xử lý được kết nối bên ngoài, lợi thế về vị trí và quỹ đất khó chuyển hóa thành sức hấp dẫn thực tế đối với nhà đầu tư.

Ở Hà Nội, việc triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW được đặt trong yêu cầu phát huy vai trò cực tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Hồng. Thành phố đã triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, đồng thời đặt vấn đề đổi mới cơ chế điều phối vùng theo hướng xác định rõ đầu mối, trách nhiệm và kết quả thực hiện. Nhưng khi các công trình hạ tầng chiến lược có tác động vượt khỏi địa giới một địa phương, bài toán không chỉ là lựa chọn dự án mà còn là cách phối hợp quyết định, bố trí nguồn lực và chia sẻ lợi ích.

Theo đồng chí Vũ Đại Thắng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, đối với những công trình, dự án hạ tầng chiến lược có tính kết nối và tác động lan tỏa liên vùng, việc lựa chọn và triển khai cần dựa trên đánh giá tổng thể hiệu quả kinh tế-xã hội của toàn vùng và quốc gia, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi từng địa phương. Cùng với đó, phải xác định rõ phương thức đầu tư, cơ chế phối hợp, trách nhiệm tham gia nguồn lực và phân chia lợi ích giữa các bên, bảo đảm phù hợp quy định pháp luật.

Đáng chú ý, Hà Nội đề xuất phát huy vai trò của Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng và các cơ chế hợp tác giữa các địa phương theo hướng thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, ưu tiên giải quyết những vấn đề có tính liên ngành, liên địa phương như phát triển hạ tầng giao thông, logistics, kết nối và chia sẻ dữ liệu, bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển các chuỗi sản xuất, cung ứng liên vùng.

“Cùng với việc phát huy vai trò của Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng, thực hiện Luật Thủ đô năm 2026 và Nghị quyết số 02-NQ/TW, Thành phố đã hoàn thiện hồ sơ, đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định kiện toàn Hội đồng điều phối vùng Thủ đô. Đây là tổ chức phối hợp liên ngành, trong đó Hà Nội là cơ quan thường trực, nhằm đổi mới cơ chế điều phối, bảo đảm liên kết, phát triển vùng Thủ đô trên nguyên tắc cùng phát triển, cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm; điều phối các nội dung về đầu tư dự án liên kết vùng, hạ tầng, bảo vệ môi trường, nguồn nước và chuỗi sản xuất, cung ứng, dịch vụ giữa Hà Nội với các địa phương trong vùng”, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh.

Để cơ chế điều phối có cơ sở vận hành, Hà Nội còn đặt vấn đề chia sẻ dữ liệu về quy hoạch, đầu tư, giao thông, môi trường, dân số và thị trường lao động. Cơ sở thông tin chung giúp các địa phương đánh giá tác động liên vùng khi lựa chọn dự án, xác định thứ tự ưu tiên và hạn chế đầu tư trùng lặp. Đây là phần việc có ý nghĩa trực tiếp đối với vai trò dẫn dắt của một cực tăng trưởng.

Một hướng đi khác đang được đặt ra từ thực tiễn phát triển của Đà Nẵng. Ở phía nam thành phố, Khu kinh tế mở Chu Lai đã hình thành hệ thống các khu công nghiệp, nhà máy sản xuất và dịch vụ logistics. Nhưng để những lợi thế ấy tạo sức lan tỏa rộng hơn, Đà Nẵng và Quảng Ngãi đang phối hợp nghiên cứu Đề án liên kết không gian Chu Lai-Dung Quất-Nam Giang-Bờ Y-Hành lang kinh tế Đông Tây 2.

Theo định hướng của hai địa phương, Khu kinh tế mở Chu Lai và Khu kinh tế Dung Quất sẽ đóng vai trò hạt nhân công nghiệp, logistics; còn Nam Giang, Bờ Y và Hành lang kinh tế Đông Tây 2 tạo trục kết nối thị trường, mở rộng giao thương ra quốc tế. Từ những trung tâm sản xuất ven biển đến các cửa khẩu phía tây, ý tưởng này hướng tới hình thành một không gian kinh tế liên hoàn, thay vì những điểm phát triển riêng lẻ.

Đây cũng là một trong những yêu cầu đặt ra khi triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW: tổ chức lại không gian phát triển, tăng cường liên kết giữa các địa phương, phát huy lợi thế của từng vùng để tạo động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, từ một đề án đang nghiên cứu đến một hành lang kinh tế vận hành hiệu quả còn là chặng đường dài, đòi hỏi sự thống nhất về quy hoạch, đầu tư hạ tầng, huy động nguồn lực và cơ chế phối hợp giữa các địa phương.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, không lấy văn bản, hội nghị thay cho chuyển biến thực tế. Mỗi nhiệm vụ phải rõ mục tiêu, một đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm và dữ liệu kiểm chứng.

Từ những công trình kết nối liên vùng đang được triển khai, những lợi thế đặc thù từng bước được khai thác đến sự hình thành các cực tăng trưởng mới, thực tiễn cho thấy những cơ hội lớn đang mở ra trong tổ chức lại không gian phát triển đất nước. Tuy nhiên, để các cơ hội ấy trở thành động lực tăng trưởng thực chất, không thể chỉ dựa vào lợi thế riêng của từng địa phương hay những mục tiêu đặt ra trong quy hoạch. Điều quan trọng là phải tạo được sự chuyển biến đồng bộ từ tư duy phát triển đến tổ chức thực hiện, từ đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực đến hoàn thiện thể chế, điều phối và chia sẻ nguồn lực giữa các vùng.

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập định hướng cho quá trình chuyển đổi ấy. Chặng đường phía trước đòi hỏi mỗi địa phương không chỉ chủ động phát huy tiềm năng, lợi thế của mình, mà còn phải đặt sự phát triển trong mối liên kết với toàn vùng và cả nước; mỗi chương trình, dự án phải hướng tới hiệu quả chung, với trách nhiệm và kết quả thực hiện rõ ràng.

Khi những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và nguồn lực từng bước được tháo gỡ, những lợi thế khác biệt được kết nối, bổ trợ và chuyển hóa thành giá trị mới, liên kết vùng sẽ không còn dừng ở những định hướng trên quy hoạch, mà trở thành động lực phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao sức cạnh tranh, tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế, tạo nền tảng để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Có thể bạn quan tâm

Thuế Thành phố Hà Nội khuyến cáo người nộp thuế chủ đông hoàn thành nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đúng hạn.

Chủ động nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đúng hạn

Để tránh phát sinh tiền chậm nộp và các rủi ro pháp lý phát sinh khi giao dịch bất động sản, Thuế Thành phố Hà Nội khuyến cáo các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên địa bàn chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2026 đúng thời hạn quy định.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội quan tâm. (Ảnh: DUY LINH)

Linh hoạt điều hành tiền tệ, nâng cao khả năng tiếp cận vốn

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn khẳng định sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt các công cụ tiền tệ, kiểm soát tín dụng, mặt bằng lãi suất và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn, trên nguyên tắc bảo đảm an toàn hệ thống và khả năng thu hồi vốn vay.

Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn thành phố Đồng Nai) phát biểu tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)

Chuyển hóa nguồn lực thành động lực tăng trưởng hai con số

Các đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp khơi thông nguồn vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư, phát huy các động lực tăng trưởng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2027 gắn với chất lượng, tính bền vững và đời sống người dân.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Giá vàng ngày 31/10: Vàng miếng SJC giảm mạnh, về mốc 139 triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay (31/10) giảm xuống mức 3.874,4 USD/ounce trong bối cảnh căng thẳng tại eo biển Hormuz leo thang, đẩy giá dầu tăng cao. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC giảm mạnh theo xu hướng đi xuống của thị trường thế giới, niêm yết lần lượt ở mức 139 triệu đồng/lượng và 135,8 triệu đồng/lượng.

Phối cảnh một dự án chung cư tại khu vực Bình Dương của Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: QUANG QUÝ)

Thị trường bất động sản cạnh tranh bằng giá trị thực

Thị trường bất động sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn thanh lọc đặt ra yêu cầu tái cấu trúc về tư duy lẫn năng lực cạnh tranh. Khi những lợi thế như quỹ đất, vị trí không còn đủ bảo đảm thành công, giá trị thực, chất lượng, thích ứng và sự liên kết chuỗi cung ứng sẽ trở thành những yếu tố quyết định sức bền của thị trường.

Triển khai Nghị quyết 27: Quan tâm đặc thù, lợi thế từng vùng, chú trọng dự án có hiệu quả kết nối

Triển khai Nghị quyết 27: Quan tâm đặc thù, lợi thế từng vùng, chú trọng dự án có hiệu quả kết nối

Phát biểu ý kiến tại nghị trường, đại biểu Quốc hội đề nghị trong quá trình triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW, Chính phủ tiếp tục quan tâm đến đặc thù, vai trò và lợi thế của từng vùng, lựa chọn những nhiệm vụ ưu tiên phù hợp, trong đó chú trọng các dự án thực sự cần thiết, có hiệu quả kết nối và phù hợp với nguồn lực.

Doanh nghiệp FDI tạo lực kéo nâng cao năng lực chuỗi cung ứng

Doanh nghiệp FDI tạo lực kéo nâng cao năng lực chuỗi cung ứng

Với Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng FDI đến năm 2030, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc mở rộng số lượng nhà cung cấp, mà còn là nâng cao năng lực để doanh nghiệp Việt đảm nhận những công việc có giá trị cao hơn.

Lễ cắt băng khánh thành nhà máy Spectre Hưng Yên 2, dấu ấn quan trọng trong hợp tác kinh tế song phương giữa Việt Nam và Vương quốc Đan Mạch. (Ảnh: MINH DUY)

Ứng dụng AI và phát triển xanh vào lĩnh vực may mặc

Sự kiện khánh thành nhà máy may mặc công nghệ cao Spectre Hưng Yên 2 trị giá 30 triệu USD đánh dấu sự phát triển mới của tập đoàn may mặc Đan Mạch tại Việt Nam, đồng thời thể hiện bước đi cụ thể hóa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện vừa được nâng cấp giữa hai quốc gia.

Thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp trên cánh đồng tại Tây Ninh, hướng tới nâng cao tỷ lệ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh. Ảnh: TTXVN

Ngành trồng trọt “bứt tốc” về đích

Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Quốc Mạnh cho biết, tính đến đầu tháng 10, cả nước đã gieo cấy được hơn 1,86 triệu ha lúa hè thu (đạt 97,7% kế hoạch).

Các trang, thiết bị máy móc hiện đại được đầu tư kéo theo đó là yêu cầu về bảo đảm nguồn cung điện.

Mở không gian cho năng lượng mới

Ngành điện hiện nay cần bảo đảm đủ điện sản xuất, kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành lưới điện, khả năng dự phòng và hiện đại hóa phương thức vận hành. Về dài hạn, việc hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo được kỳ vọng mở ra không gian phát triển mới cho ngành năng lượng.

Khu nhà lưu trú công nhân Thiên Phúc, một trong những khu nhà ở xã hội thuê mua, thuê đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh (Ảnh: MINH THÀNH).

Đồng bộ giải pháp để giảm giá nhà ở

Thời gian qua, thị trường bất động sản có nhiều dấu hiệu tích cực, ổn định, nhất là phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, giá nhà từ đó cũng dần hạ nhiệt. Tuy nhiên, người dân vẫn mong đợi những chính sách thông thoáng, đồng bộ hơn để có thể tăng cơ hội tiếp cận nhà ở, hạn chế đầu cơ bất động sản.