Áp dụng công nghệ "sông trong ao", hướng đi bền vững phát triển nuôi trồng thủy sản

Trong bối cảnh diện tích đất không còn nhiều trong khi nhu cầu sản lượng ngày càng lớn và cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp có sự thay đổi, sử dụng công nghệ trong sản xuất và nuôi trồng thủy sản sẽ là hướng đi bền vững trong tương lai. Công nghệ "sông trong ao" (IPRS) đáp ứng được các tiêu chí trên, góp phần tăng sản lượng và chất lượng thủy sản, thân thiện với môi trường. Mặc dù vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, tỷ lệ áp dụng thành công của công nghệ này tại Việt Nam chưa cao.
Công nghệ "sông trong ao" (IPRS) đáp ứng được các tiêu chí góp phần tăng sản lượng và chất lượng thủy sản, thân thiện với môi trường. (Ảnh: Baokhanhhoa.vn)
Công nghệ "sông trong ao" (IPRS) đáp ứng được các tiêu chí góp phần tăng sản lượng và chất lượng thủy sản, thân thiện với môi trường. (Ảnh: Baokhanhhoa.vn)

Công nghệ "sông trong ao", hướng phát triển sản xuất xanh, sạch, an toàn

Trang trại nuôi cá rộng 20ha của anh Bùi Văn Tùng nằm ven con đê sông Châu Giang, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, với hệ thống ao cá được đầu tư nuôi bài bản theo mô hình áp dụng công nghệ cao, chính thức đi vào hoạt động từ tháng 6/2020. Sau khi tìm hiểu những mô hình nuôi thâm canh công nghệ cao, anh Tùng nhận thấy IPRS là mô hình hoàn toàn phù hợp với những tiêu chí mà mình hướng tới. Trải qua quá trình vận hành, anh Tùng nhận thấy sự khác biệt, tính ưu việt rõ rệt giữa IPRS và nuôi truyền thống.

Anh chia sẻ: “Mô hình IPRS giúp quản trị được sự thất thoát ngay từ khâu con giống, giải quyết được căn bản những yếu tố như: tổn thất đầu con, những yếu tố ngoại lai xâm phạm. Đồng thời, diện tích nuôi nhỏ giúp thuận lợi hơn trong quản trị và khâu chăm sóc. Điều này cũng đồng nghĩa với việc một nhân công có thể bao quát được mô hình, tiết kiệm đáng kể về chi phí lao động.

Theo anh Tùng, sử dụng công nghệ nuôi "sông trong ao" rủi ro dịch bệnh được hạn chế tối đa. Khi có phát sinh vấn đề dịch bệnh việc xử lý cũng dễ dàng và tiết kiệm chi phí hơn, bởi cá được nuôi trong diện tích nhỏ, các yếu tố nuôi được kiểm soát một cách dễ dàng.

Mô hình IPRS giúp quản trị được sự thất thoát ngay từ khâu con giống, giải quyết được căn bản những yếu tố như: tổn thất đầu con, những yếu tố ngoại lai xâm phạm. (Ảnh: Nongnghiep.vn)

Mô hình IPRS giúp quản trị được sự thất thoát ngay từ khâu con giống, giải quyết được căn bản những yếu tố như: tổn thất đầu con, những yếu tố ngoại lai xâm phạm. (Ảnh: Nongnghiep.vn)

Bên cạnh đó, chu kỳ chăn nuôi ngắn, sản phẩm luôn bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, sau thu hoạch cá cho phép thả con giống mới ngay mà không cần phải xử lý đáy ao…

Mặt khác, với diện tích nuôi nhỏ, thuận lợi cho việc thu hoạch, IPRS giúp giảm được 2% chi phí đánh bắt, thu hoạch; giảm được từ 7-10% chi phí hao hụt trọng lượng cá trong khâu thu hoạch (cá bị stress). Tiêu thụ điện năng tính trên giá thành đầu con giảm nhiều so với nuôi truyền thống (sử dụng guồng quạt).

Đặc biệt, cá được nuôi theo mô hình IPRS đem lại chất lượng vượt trội. Môi sinh cá luôn tiếp xúc với lượng ô-xy tươi mới, cá không bị stress, thường xuyên vận động biến đổi cơ tính, không tiếp xúc với bùn, đáy. Tất cả những yếu tố trên giúp chất lượng cá có sự khác biệt vượt trội so với nuôi thông thường. Thịt cá thơm ngon, chắc thịt và đặc biệt không có mùi tanh.

Cá được nuôi theo mô hình IPRS đem lại chất lượng vượt trội.

“Cá rô phi nuôi ở ao, bùn thải nhiều sẽ khiến cá hình thành lớp màng đen ở khoang bụng, khiến cá có mùi tanh. Đó là một trong những lý do cản trở việc xuất khẩu cá rô phi Việt Nam sang thị trường quốc tế. Cá nuôi theo mô hình 'sông trong ao' không xuất hiện màng đen, thịt thơm, chắc”, anh Tùng chia sẻ thêm.

Chia sẻ tại Hội thảo “Nuôi trồng thủy sản bền vững quy mô công nghiệp với công nghệ "sông trong ao" do Cục Thủy sản tổ chức mới đây ông Châu Ái Hoan, Giám đốc kỹ thuật nuôi trồng thủy sản của USSEC cho biết: USSEC đã triển khai mô hình đầu tiên tại Trung Quốc vào năm 2013 dựa trên nguyên lý của ao truyền thống và máng nuôi. Ưu điểm của công nghệ này là giúp nâng cao năng suất và tỷ lệ sống, cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn và hiệu quả cho ăn, giảm thiểu thuốc và hóa chất, bảo đảm an toàn thực phẩm, kiểm soát lượng cá tốt hơn với tỷ lệ thu hoạch 100% mà không cần rút nước. Ngoài ra, mô hình này cũng thả nuôi được nhiều loài cá như trắm cỏ, cá vược nước ngọt, trắm đen, vược nhật, cá chép, cá chim trắng, cá diếc, cá rô phi, chép Wuchang, cá lăng đen, cá trê trắng... Bên cạnh đó, IPRS còn giúp phân lọc chất thải và tái sử dụng làm phân bón cho cây trồng.

Từ khi USSEC triển khai thành công mô hình đầu tiên năm 2013, tính đến nay đã có 20 tỉnh, thành phố tại Trung Quốc áp dụng triển khai với tổng số máng nuôi tăng từ 3 máng lên khoảng 13.000 máng vào năm 2023.

Theo ông Hoan một trong những điều kiện tiên quyết trước khi thả mà người nuôi cần phải bảo đảm đó là yếu tố “ba sạch”: ao sạch, nước sạch, cá sạch. Những hợp phần quan trọng tạo nên mô hình IPRS bao gồm: máng nuôi, vùng nước tĩnh/thu gom chất thải, bửng chắn, cổng chắn, đơn vị nước trắng, hệ thống sục khí đáy, thiết bị thu gom chất thải, máy cho ăn tự động, máy phát dự phòng, dụng cụ thu hoạch, thiết bị báo động. Tuy nhiên, theo ông Hoan, dù sử dụng công nghệ nào thì USSEC cũng cam kết 3 điều “thân thiện với môi trường, an toàn thực phẩm và phát triển bền vững”.

Nhiều khó khăn đưa công nghệ IPRS vào sản xuất tại Việt Nam

Mặc dù vậy việc áp dụng công nghệ "sông trong ao" tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Theo TS Bùi Ngọc Thanh, Giám đốc kỹ thuật, đại diện khu vực miền bắc và miền trung – USSEC cho biết: “Hiện tại, mô hình IPRS đang gặp trở ngại về vốn đầu tư ban đầu và đầu tư cho vận hành. Vì hầu hết hộ dân là nông dân nuôi cá, khó khăn trong điều kiện kinh tế để có thể đầu tư dài hạn. Rất nhiều người sau khi nghe giới thiệu về công nghệ đều rất muốn áp dụng, nhưng khi đi sâu vào chi phí, người nuôi rất đắn đo.

Cá được nuôi theo mô hình IPRS luôn tiếp xúc với lượng ô-xy tươi mới, cá không bị stress, thường xuyên vận động biến đổi cơ tính, không tiếp xúc với bùn, đá, đem lại chất lượng vượt trội. (Ảnh: Nongnghiep.vn)

Cá được nuôi theo mô hình IPRS luôn tiếp xúc với lượng ô-xy tươi mới, cá không bị stress, thường xuyên vận động biến đổi cơ tính, không tiếp xúc với bùn, đá, đem lại chất lượng vượt trội. (Ảnh: Nongnghiep.vn)

Đặc biệt, một số người mạnh dạn đầu tư, nhưng chưa đúng mức do điều kiện tài chính không đủ. Điều này dẫn đến xu hướng cắt bớt một số khâu/yếu tố khiến mô hình vận hành không đúng nguyên lý, do vậy không đạt được hiệu quả như mong muốn. "Sông trong ao" phù hợp hơn cho những trang trại quy mô lớn, hướng tới sản xuất hàng hóa, đề cao chất lượng sản phẩm và tính bền vững môi trường.

Công nghệ "sông trong ao" được coi là nền tảng giúp chúng ta bước chân được vào những thị trường tiêu thụ khó tính và tiềm năng. Thực chất, đối với tiêu dùng nội địa, Việt Nam có nhiều điều kiện sản xuất thủy sản nhưng chúng ta chưa thiết lập được kênh tiêu thụ.

Theo ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): IPRS đã có một thời gian dài được triển khai tại một số địa phương phía bắc, phía nam và Tây Nguyên của Việt Nam trong đó có mô hình nuôi cá tầm ở Lâm Đồng cho kết quả tốt. Theo Cục trưởng, chúng ta đã tiếp thu công nghệ nước ngoài, tuy nhiên với nuôi quy mô công nghiệp thì IPRS là một xu hướng tất yếu khi đến một lúc nào đó diện tích đất không còn nhiều trong khi nhu cầu sản lượng ngày càng lớn và cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp có sự thay đổi.

Cục trưởng Cục Thủy sản Trần Đình Luân cho rằng: IPRS sẽ góp phần tạo ra thương hiệu cho các sản phẩm thủy sản và muốn làm được điều đó thì trong khâu tổ chức sản xuất cần tạo ra các sản phẩm đồng đều về chất lượng, phải có sự kết nối giữa những người dân với nhau để đưa sản phẩm đến với thị trường. Ngoài ra, Cục trưởng nhấn mạnh khi nuôi cần lựa chọn thời điểm xuống giống cho phù hợp, không phải chỉ tăng mãi sản lượng mà cần đi sâu vào chất lượng và hiệu quả kinh tế, đáp ứng vấn đề bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh cho con cá.

Công nghệ "sông trong ao" được coi là nền tảng giúp chúng ta bước chân được vào những thị trường tiêu thụ khó tính và tiềm năng. Thực chất, đối với tiêu dùng nội địa, Việt Nam có nhiều điều kiện sản xuất thủy sản nhưng chúng ta chưa thiết lập được kênh tiêu thụ. Để làm được điều này thì ngành nuôi trồng thủy sản cần có một nền tảng để phát triển. IPRS là một nhân tố thúc đẩy, tạo đà cho sự phát triển của ngành thủy sản Việt Nam.

Công nghệ "sông trong ao" là công nghệ nuôi bền vững với mật độ cao giúp tăng năng suất nuôi bằng việc sử dụng ít diện tích nuôi, do vận dụng nguyên lý nước lưu thông trong ao, có thể nuôi, thả cá liên tục quanh năm. Công nghệ này được phát minh bởi Đại học Auburn và được Hội đồng xuất khẩu Đậu tương Hoa Kỳ (USSEC) phổ biến tới người nuôi nhằm tăng sản lượng và chất lượng thủy sản một cách hiệu quả, bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Mô hình khởi nghiệp sản xuất các sản phẩm từ nhung hươu của anh Nguyễn Khắc Huân (tỉnh Hà Tĩnh).

Mở lối đi bền vững cho nông sản Việt

Thay vì bôn ba ở các thành phố lớn, làm giàu bằng những công việc liên quan các công nghệ cao siêu..., nhiều bạn trẻ người Hà Tĩnh đã lựa chọn trở về quê hương, bắt đầu hành trình khởi nghiệp từ chính những nông sản gắn bó bao đời nay với đời sống của người nông dân.

Công nhân Nhà máy Vietfoods (Khu công nghiệp Hapro, Hà Nội) trong xưởng sản xuất.

Chủ động các giải pháp ổn định nguồn nhân lực

Dịp sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán thường được xem là giai đoạn nhạy cảm của thị trường lao động, khi nhiều người cân nhắc thay đổi công việc. Sự dịch chuyển này cần những giải pháp lâu dài để không tạo ra khoảng trống nhân lực trong doanh nghiệp, tác động đến tiến độ sản xuất và kế hoạch kinh doanh đã đề ra.

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng giảm tuần thứ hai liên tiếp, người mua vàng từ đỉnh lỗ hơn 11 triệu đồng/lượng chỉ sau gần nửa tháng

Tuần này, giá vàng thế giới không có biến động quá lớn, kết thúc tuần giao dịch quanh mức 5.017 USD/ounce. Các chuyên gia cho rằng giá vàng có thể tăng hoặc đi ngang trong tuần tới. Trong nước, giá vàng ghi nhận tuần giảm giá thứ hai liên tiếp; giá vàng miếng SJC kết thúc tuần bán ra ở mức 182,6 triệu đồng/lượng.

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh (mũ cối, ngoài cùng bên phải) kiểm tra tiến độ thi công dự án đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Long Thành-Dầu Giây.

Giảm áp lực về nhiên liệu, vật liệu tại các công trình hạ tầng trọng điểm

Xung đột quân sự tại Trung Đông đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với nhiều dự án hạ tầng giao thông về nhiên liệu và vật liệu xây dựng. Trong bối cảnh chi phí leo thang và nguồn cung nhiên liệu gián đoạn, các doanh nghiệp thi công đang xoay xở mọi cách nhằm duy trì hoạt động công trường và hạn chế tác động đến tiến độ dự án.

Xăng sinh học E10 - nguồn nguyên liệu và chuỗi cung ứng năng lượng mới.

Xăng sinh học E10 - nguồn nguyên liệu và chuỗi cung ứng năng lượng mới

Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động khó lường, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng trở thành một ưu tiên chiến lược đối với nhiều quốc gia. Bên cạnh việc đa dạng hóa nguồn cung nhiên liệu hóa thạch, phát triển nhiên liệu sinh học đang được xem là một hướng đi quan trọng nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào xăng dầu.

Chi tiêu cho công nghệ: Cần một công cụ quản trị thông minh

Chi tiêu cho công nghệ: Cần một công cụ quản trị thông minh

Sự kết hợp giữa công nghệ, tài chính và bán lẻ đang mở ra nhiều mô hình tiêu dùng mới. Với những người trẻ, việc lựa chọn các công cụ thanh toán phù hợp giúp quá trình mua sắm trở nên thuận tiện hơn, góp phần hình thành thói quen quản lý tài chính cá nhân bài bản và bền vững trong dài hạn.

[Video] Giá nhiên liệu tăng tác động mạnh tới vận tải và xây dựng

[Video] Giá nhiên liệu tăng tác động mạnh tới vận tải và xây dựng

Bộ Xây dựng vừa có báo cáo đánh giá tác động của biến động giá nhiên liệu đối với các lĩnh vực vận tải và đầu tư xây dựng. Diễn biến căng thẳng của xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông khiến giá dầu thô và các sản phẩm xăng dầu thế giới biến động, kéo theo chi phí vận tải và sản xuất, kinh doanh gia tăng.

Ảnh minh họa.

Giá vàng ngày 14/3: Vàng miếng, vàng nhẫn tiếp đà "lao dốc", giảm thêm 2,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay, 14/3, tiếp tục giảm trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và lo ngại lạm phát gia tăng, giao dịch ở mức 5.017,7 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC đồng loạt giảm theo giá thế giới, niêm yết lần lượt ở mức 182,6 triệu đồng/lượng và 182,3 triệu đồng/lượng.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 70/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch. (Ảnh: Thành Đạt)

Hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ "nút thắt" trong công tác quy hoạch

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 70/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch. Với nhiều điểm mới, Nghị định được kỳ vọng sẽ hoàn thiện cơ sở pháp lý, tháo gỡ các bất cập thực tiễn trong quy hoạch, nhằm thúc đẩy triển khai các dự án, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Ảnh minh họa.

[Infographic] Thị trường chứng khoán tuần 9-13/3: Thanh khoản giảm, khối lượng giao dịch giảm -14,7% so tuần trước

Thị trường có tuần thứ hai liên tiếp giảm điểm mạnh,VN-Index kết tuần giao dịch 9/3-13/3 giảm 4,05% về mức 1.696,24 điểm. Độ rộng thị trường tiêu cực trong tuần này với áp lực bán mạnh ở nhóm dầu khí. Thanh khoản trong tuần giảm, khối lượng giao dịch giảm 14,7% so tuần trước.